
11:24 - 03/03/2026
TS Giáp Văn Dương: Nguỵ tín AI
Quan sát sự xuất hiện của AI và sự lan rộng của AI vào mọi lĩnh vực ngày nay, chúng ta có thể mạnh dạn đưa ra một nhận định: sự xuất hiện của AI chắc chắn sẽ tạo ra cuộc khủng hoảng hiện sinh cho con người trong tương lai.

Khi chúng ta ngày càng dựa vào sự hướng dẫn của AI, chúng ta có nguy cơ đánh mất lý trí và chiều sâu cảm xúc của con người.
Nếu như trước đây, con người chỉ phải định nghĩa mình trong mối tương quan với Chúa, với công việc, với người khác hoặc với tự nhiên, thì ngày nay, con người còn phải định nghĩa mình trong mối tương quan với AI.
Thực tế cho thấy, tích hợp AI vào công việc đã trở thành điều kiện cần để rất nhiều người duy trì được hiệu suất làm việc trong nhiều ngành nghề khác nhau hiện nay. Nhưng nếu điều kiện cần là như vậy, thì điều kiện đủ là gì để con người vẫn giữ được quyền chủ động trước AI trong một thế giới đang từng ngày bị “AI hóa”?
Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần dành chút thời gian để đánh giá xem con người khác với AI về mặt hữu thể luận, tức khác biệt có tính cách quyết định về sự tồn tại của con người và AI, như thế nào?
Phân tích cơ chế hoạt động của các AI hiện giờ, được tạo ra bởi thuật toán và dữ liệu, ta sẽ thấy, từ quan điểm của triết học hiện sinh, thì AI vẫn là “tồn-tại-tự-mình”, tức loại tồn tại mà bản chất đi trước hiện hữu. Nói cách khác, mục đích tồn tại của AI được thiết kế trước và cụ thể hoá trong các dòng code và thuật toán phân tích các dữ liệu. Đó là loại tồn tại tương tự như hòn đá, cái cây, trùng khít với chính nó, không có tự do, không có khả năng tự chất vấn về sự tồn tại của chính mình. Nói ngắn gọn, AI cho đến nay chưa thể tự đặt ra và trả lời cho câu hỏi “AI là ai?”.
Ngược lại, con người là “tồn-tại-cho-mình”, không trùng khít với chính mình, có tự do, có khả năng tự chất vấn “Tôi là ai? Người là gì?”. Chính điều này làm cho con người không bị giới hạn bởi cái đang-là, mà luôn trên đường trở thành cái chưa-là. Đó chính là tự do của con người. Cũng chính là trách nhiệm của con người khi được ban cho thứ tự do căn bản, bất khả tước đoạt đó.
Đi vào thực tế, nếu ai đã sử dụng AI rồi sẽ thấy, sự khác biệt giữa AI và con người nằm ở các nội dung rất cụ thể như sau:
Khả năng đặt câu hỏi: AI có thể giỏi trả lời, và có thể trả lời mọi câu hỏi do con người đặt ra theo cách rất “trơn tru và xuôi tai”, nhưng chính con người mới là thực thể biết đặt câu hỏi cho AI trả lời. Một câu hỏi đúng giá trị hơn ngàn câu trả lời nhanh. Cho đến nay, chỉ con người mới có khả năng đặt câu hỏi đúng và xác đáng cho AI.
Đạo đức và lòng trắc ẩn: AI có thể được sử dụng để tối ưu hóa lợi nhuận vận hành, nhưng AI không biết “đau” trước một quyết định sa thải nhân viên hay cảm thấy “tự hào” khi cứu giúp một cộng đồng. Lòng trắc ẩn là chất keo kết dính xã hội mà không thuật toán nào mô phỏng và triển khai ra thực tế được.
Khả năng phán đoán dựa trên bối cảnh: AI hoạt động dựa trên các thuật toán phân tích dữ liệu từ quá khứ. Con người có khả năng đưa ra quyết định “phi thuật toán”, hoặc thường xuyên sử dụng trực giác để đưa ra quyết định, nhưng lại đúng đắn trong những bối cảnh văn hóa, tâm lý phức tạp mà dữ liệu chưa kịp cập nhật.
Những phân tích trên đây cho thấy: đến nay, AI đang là một công cụ làm việc rất mạnh, nhưng chưa thoát khỏi tình trạng tồn-tại-tự thân, nên con người vẫn còn có tự do trong việc sử dụng AI, tức chung sống với AI trong một thời đại AI đang dần len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống, nếu con người ý thức được mình có thứ tự do đó.
Liệu con người có thể chung sống với AI?
Theo góc nhìn của triết học hiện sinh, câu trả lời nằm ở tính ý hướng của chính ý thức con người. Chính tính ý hướng sẽ tạo ra sự khác biệt về bản chất của ý thức con người và những thuật toán, hay “ý thức”, của AI. Cho đến nay, AI vẫn chỉ dừng ở mức thực thi các mục tiêu được thiết lập bởi con người. AI không có ý chí, không tìm kiếm ý nghĩa, không tự chủ làm gì khi không có yêu cầu.
Mở rộng hơn, AI cũng không biết và không chất vấn tại sao mình tồn tại. Do đó, nó cũng không cảm thấy cô đơn, không sợ chết, hay khát khao được công nhận, khát khao làm điều gì đó có ý nghĩa như con người.
Chính tính ý hướng của ý thức con người, và cả những “khiếm khuyết” của con người khả tử, là nguồn gốc của các quyết định sáng tạo và đột phá có tính cách phá phi thuật toán. Nó giúp con người chung sống được với AI mà không bị thuật toán hóa, AI hóa, tất nhiên là với điều kiện con người ý thức được tự do hiện sinh của mình và không đánh mất tự do đó trước sức mạnh của AI.
Con người cần định nghĩa lại chính mình
Trong bối cảnh AI đang xâm nhập vào mọi ngõ ngách của công việc, thì việc đầu tiên chúng ta nên làm là tự định nghĩa lại mình trong mối quan hệ với AI. Từ xưa đến nay, ở mức đại chúng, ta vẫn thường định nghĩa mình trước công việc, chẳng hạn: tôi là giáo viên, tôi là kĩ sư, tôi là kế toán, tôi là nhà văn…
Nhưng nếu AI làm tốt hơn chúng ta trong chính các công việc này, hoặc trong một phần lớn các đầu việc mà ta đang phụ trách, thì chắc chắn ta phải định nghĩa lại bản thân mình. Định nghĩa đó sẽ không dựa trên công việc, mà dựa trên giá trị làm việc và giá trị làm người, để phân biệt với AI.
Thứ hai, chúng ta nên điều tiết lại nhịp sống của mình và nhịp làm việc với AI. Khi tốc độ tính toán ngày càng tăng và vượt xa khả năng xử lý thông tin của bộ não người, thì con người cần “hư vô hóa” chính mình, theo cách nói của Sartre, để điều nhịp, chiêm nghiệm và tránh bị vắt kiệt sức trong guồng quay của cỗ máy công việc được điều tốc bởi AI.
Tiếp đến, là con người cần giữ gìn sự chân thật ngay trong quá trình làm việc và làm người. Theo góc nhìn của triết học hiện sinh, thì sự chân thật đó đến không chỉ từ lựa chọn nguyên thủy và dự phóng tương lai của chính con người, mà còn từ các nội dung “thật” mà chúng ta tạo ra hàng ngày, có dấu ấn cá nhân, có cảm xúc, có sai sót của con người, do con người tạo ra, giữa một rừng thông tin, văn bản, tài liệu, tác phẩm… do AI tạo ra.
Vậy con người nên chung sống với AI thế nào?
Dưới góc nhìn của triết học hiện sinh, một trong những điểm khác biệt quan trọng nhất của con người, khi so sánh với AI, chính là dự phóng cá nhân và sự dấn thân. Cho đến nay, AI không có dự phóng cá nhân, cũng không chủ động dấn thân để hiện thực hoá dự phóng đó. AI chỉ biết thực hiện tác vụ. Nhưng con người thì có dự phóng và có sự dấn thân. Con người không bị giới hạn bởi cái đang-là, mà luôn trên đường trở thành cái chưa-là. Do đó, nếu tích hợp AI vào công việc là “điều kiện cần” để tồn tại trong nền kinh tế AI, thì điều kiện đủ chính là việc dấn thân thực hiện các dự phóng cá nhân của mỗi người.
Trong quá trình đó, chúng ta sẽ thấy AI sẽ là một công cụ mạnh, đến mức nó có thể sử dụng chính chúng ta theo ý đồ của các tập đoàn công nghệ, nhưng bằng sự dấn thân và dự phóng cá nhân, ta có thể chế ngự được sức mạnh đó, bắt AI phải quy phục, ít nhất trong việc xác định mục đích và kiến tạo ý nghĩa của hành động mà ta đang thực hiện. Khi đó, ta sẽ xác định mục đích cho các hoạt động của AI, và kiến tạo ra ý nghĩa cho chính các hành động đó, để quy nó về mục đích và ý nghĩa cho hành động của chính ta.
Nhưng việc này đòi hỏi sự dũng cảm của con người. Thay vì chìm vào “ngụy tín AI”, theo nghĩa đổ thừa cho việc “AI bảo thế”, ta cần giành lại quyền làm chủ quyết định của đời mình trong mỗi thao tác tư duy. Có thể đó chỉ là những quyết định rất nhỏ trong toàn bộ chuỗi tư duy và các công việc có sự tích hợp của AI, nhưng ta vẫn phải can đảm giành lấy và chịu trách nhiệm với nó, nhất quyết không được phó thác cho cỗ máy “AI biết tuốt”.
Chính sự dũng cảm giành lại quyết định đó, và đặc biệt là dũng cảm gánh vác trách nhiệm khi đưa ra quyết định, sẽ giúp chúng ta giữ được bản chất con người.
Thoát khỏi “ngụy tín AI”
Tuy AI xuất hiện chưa lâu, nhưng chúng ta đã thấy một hiện tượng đáng lo ngại: ngụy tín AI. Bằng chứng là rất nhiều người đã tin tưởng gần như tuyệt đối vào các lời khuyên, tư vấn của AI, đến mức tìm đến cái chết do AI “bảo thế”. Trong trường hợp đó, con người đã rơi vào “ngụy tín AI”, tự biến mình thành một vật thể, một công cụ của AI và trao số phận mình cho AI quyết định.
Có lẽ, nguỵ tín AI sẽ là khủng hoảng hiện sinh lớn nhất trong thời đại AI, vì dù mới xuất hiện và còn ở giai đoạn đầu của sự phát triển, số lượng người rơi vào ngụy tín AI đã khá nhiều, ít nhất là thông qua những gì xuất hiện trên mạng xã hội và truyền thông đại chúng.
Vì lẽ đó, thoát khỏi nguỵ tín AI để giành lại quyền chủ động trong mối quan hệ với AI chính là thử thách lớn nhất, cũng là điều kiện đủ để con người giữ được bản chất người của mình, trong một thế giới đang bị AI hoá ngày càng nhanh, xoáy càng sâu, mỗi ngày.
Giáp Văn Dương (theo TGHN)
Ngày đăng: 3/3/2026
























































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này