
10:24 - 03/03/2026
Nhịp mùa của yêu thương
Bốn mùa nối tiếp nhau, mang những nhịp yêu thương riêng.
Đông – trận cầu hồn chưa bao giờ kết thúc
Mùa Đông, với nhiều người, là mùa lễ hội, tổng kết và chuẩn bị cho một chu kỳ mới. Ở Việt Nam, những tháng cuối năm còn là mùa cưới, mùa đoàn tụ. Nhưng với Sangeeta Kaur – nghệ sĩ soprano người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt Grammy lần thứ 64 (2022) với album Mythologie – thì năm nay hầu như không có “mùa lễ”. Cô và chồng, nghệ sĩ guitar Hải Nguyễn, đang di chuyển liên tục giữa nhiều quốc gia để giới thiệu album Requiem of Light, tác phẩm vừa nhận đề cử Grammy lần thứ ba, tại kỳ trao giải 2026.
Requiem of Light – Khúc cầu hồn ánh sáng, với Sangeeta Kaur (soprano), Brian Giebler (tenor) và dàn hợp xướng The Clarion Choir, được đề cử ở hạng mục Best Choral Performance. Các tác phẩm cùng hạng mục đều là những thành tựu tiêu biểu của âm nhạc hợp xướng đương đại: từ những khúc ca mang tinh thần nhân văn phổ quát (Poor Hymnal), những tác phẩm kể chuyện lịch sử (Yanga), các bản tưởng niệm sâu lắng (In the Arms of the Beloved), đến những phụng vụ dành cho một thế giới đổ vỡ (Liturgies for a Broken World).
Điều đáng chú ý là điểm tựa tinh thần lớn nhất của Requiem of Light không nằm ở tham vọng cạnh tranh nghệ thuật, mà lại khởi sinh từ một tầng ký ức rất riêng: cái tên thật của Sangeeta Kaur – Mai Xuân Loan. Cái tên ấy gợi về gia tộc họ nội Mai Phùng Xuân, bốn đời làm nghề mai táng tại Biên Hòa, Đồng Nai. Từ đó, khúc nhạc mở ra một mạch ngầm sâu hơn: mạch của ký ức tập thể, của những cái chết chưa được gọi tên, chưa được cúng giải oan, chưa được đặt đúng vị trí trong lịch sử tinh thần của cộng đồng.
Trong văn hóa Việt, người chết không chỉ là đối tượng của tang lễ. Họ là những linh hồn còn cần được gọi về, được nghe, được an ủi. Một nghi thức cầu siêu, vì thế, không chỉ nhằm xoa dịu người sống, mà còn để người đã khuất tin rằng cái chết không đồng nghĩa với sự quên lãng.
Lịch sử Việt Nam, qua nhiều thế kỷ biến động, là nơi tích tụ vô số cái chết không mộ, không tên, không ngày giỗ – những thân phận nằm chồng lên nhau trong ký ức đất đai
Từ kinh đô thất thủ ở Huế, những cuộc giao tranh dọc sông Gianh, nạn đói Ất Dậu, cho đến đại dịch Covid gần đây, đặc biệt tại Sài Gòn, những cái chết ấy hợp thành một trận cầu hồn chưa bao giờ kết thúc: Hàng vạn người ra đi trong phòng cách ly, không một nén nhang, không một lời tiễn biệt. Có tro cốt trở về sau nhiều tháng; có gia đình không kịp nhìn mặt lần cuối. Những linh hồn ấy chưa từng “được đưa”.
Một khúc cầu hồn chung, vì thế, không nhằm khơi lại hận thù, mà để khép những vết thương chưa được vá. Âm nhạc, như Requiem of Light, có khả năng đi trước nghi lễ, gợi lại niềm tin, nỗi đau, hy vọng và hòa giải, những điều mà lịch sử chính trị thường né tránh hoặc gọi sai. Cầu hồn, sau cùng, không chỉ cho người chết, mà là cách người sống học lại cách nhớ cho đúng.
Thu – Kỳ nam là ký ức buộc phải chuyển hóa để không chết
Cuối Thu năm nay, phim Quán Kỳ Nam – thành quả của bảy năm chuẩn bị, mà tôi có tham gia với tư cách đồng biên kịch – đã tạo nên một hiện tượng tranh luận hiếm thấy trên cõi mạng. Người khen và đồng cảm khá đông, người chê nhạt, thiếu cao trào gây buồn ngủ cũng nhiều. Các phản hồi chê khen, ban đầu được tôi chia sẻ đầy đủ, dầu phải tiết chế khi tranh luận vượt khỏi đối thoại thẩm mỹ, trở thành xung đột không cần thiết, trong bối cảnh tôi còn nhiều dự án phim đang chờ hoàn tất cho năm 2026. Dẫu vậy, cảm giác còn nợ khán giả – dù khen hay chê – vẫn còn đó.
Kỳ nam, trong văn hóa hương liệu phương Đông, là một khái niệm thường bị hiểu lẫn với trầm hương. Mọi kỳ nam đều là trầm, nhưng không phải trầm nào cũng là kỳ nam. Trầm là vết thương đã lành; kỳ là vết thương đã hóa linh. Trầm đẹp, thơm, dễ gần; kỳ hiếm, sâu, khó chịu nhưng ám ảnh. Nếu trầm là ký ức đã được làm mềm, thì kỳ là dư chấn của ký ức.
Kỳ nam không thơm ngay. Nó đắng trước, cay sau, rất lâu mới ngọt – như ký ức tập thể của một cộng đồng từng đi qua chiến tranh và mất mát, nó không mời gọi, không ban thưởng tức thì. Người ta thường giữ trầm – thứ ký ức đã được kể lại cho vừa tai. Còn kỳ nam là phần ký ức chưa chịu lắng, phần tổn thương không chịu hóa giải, khiến người ta bất an. Nó bị cất giấu, bị né tránh, không hẳn vì giá trị vật chất, mà vì nó buộc ta đối diện với những vết thương chưa được nhìn thẳng.
Kỳ nam chỉ xuất hiện khi thân cây chịu một vết thương đủ sâu, đủ lâu và đủ cô độc. Nhựa thấm vào thớ gỗ, không còn ranh giới giữa đau và sống. Khi đốt kỳ nam, mùi hương không tỏa ra ngoài trước, mà quay vào trong. Người ta tưởng mình đang ngửi hương, nhưng thực chất đang hít vào một ký ức đã rời khỏi sở hữu cá nhân, trở thành dư chấn của thời gian.
Nếu trầm là ký ức được cho phép tồn tại, thì kỳ nam là ký ức đã kết tinh – buộc phải chuyển hóa để không chết.
Hạ – đi trước mang theo ký ức, sinh sau mang theo tương lai
Quán Kỳ Nam đã vô tình mở ra một cánh cửa, giúp người trung niên nhớ lại, và cho người trẻ tiếp cận một kỳ nhân tên Bùi Giáng. Từ đó, tôi tìm lại ngoài xấp thơ Nợ Bút Duyên Thơ của Bùi Giáng và nhà sư Viên Thức, và còn tìm ra hai trang thơ viết tay thi sĩ tặng tôi khi cùng đi quay Một Cõi Đi Về tại Đà Lạt năm 1991. Lúc đó ông 72 tuổi – bằng tôi bây giờ – đóng vai Bùi Giáng, còn tôi là biên kịch.
“A Đầu Tỳ Tử sơ khai,
Tận cùng bí mật từ mai mốt về,
Thượng Thừa Minh Ngọc Ni Cô,
Nghìn Thu xa vắng tợ hồ như say.”
Búi Giàng Bùi kính dâng Minh – Ngọc – Thượng – Đế – Phu nhân.
Trẩm tên là Búi Giàng Bùi. Đà Lạt 1991
Những dòng chữ ấy không chỉ là kỷ niệm cá nhân, mà là dấu vết của một thời mà ký ức còn được truyền qua gặp gỡ, hiện diện và đối thoại.
Nhờ vài khán giả yêu phim gửi tặng vé cho sinh viên, tôi biết có những bạn trẻ lần đầu nghe đến những khái niệm từng khuấy động bao gia đình, như “vượt biên”. Khoảng trống giữa các thế hệ vì thế, không hẳn do quên lãng, mà do không được phép nhớ, hoặc không được gợi mở nhu cầu cần nhớ.
Người đi trước mang theo ký ức. Người sinh sau mang theo tương lai. Khi ký ức không được truyền đi trọn vẹn, tương lai dễ hụt chân. Có người không chịu già, vì còn tin ký ức có thể cứu ai đó – không phải khỏi nghèo đói, mà khỏi sự vô can với lịch sử của chính mình. Ở tuổi thất thập, hạnh phúc lớn nhất là còn nghe đâu đó âm trầm kể chuyện – không áp đặt, chỉ mong còn người chịu ngồi lại. Khi ấy, ký ức đổi màu như lá, nhưng chưa rơi xuống đất.
Xuân – mùa của yêu thương
Sau 1975, nhà văn Lý Lan từng nhìn một hố bom B52 và tự hỏi mất bao lâu để nó được san phẳng? Lúc ấy, tôi liên tưởng ngay đến những hố bom trong lòng người, và tự trả lời: có lẽ cần nửa thế kỷ. Giờ đây, khi đã gần năm thứ 51 sau hòa bình, câu hỏi ấy vẫn còn nguyên giá trị.
Mùa Xuân đầu tiên của Văn Cao (1976) – vang lên như một lời hồi sinh mong manh, thầm lặng của một nghệ sĩ từng bị câm lặng gần hai thập niên, bị gạt ra ngoài đời sống nghệ thuật chính thống. Đó là mùa xuân hết sức bình thường, không cờ hoa, không ồn ào, của những người sống sót, bởi vì sau bao mất mát, được sống bình thường đã là hạnh phúc. Sau khi đã mất quá nhiều mùa xuân, nó cũng là Mùa Xuân đầu tiên của hòa bình, của đạo đức, của nhân tính. Giai điệu chậm, mềm, dè dặt, không cao trào dữ dội-như người vừa ra khỏi bóng tối, nói rất khẽ vì sợ làm vỡ im lặng. Chính sự tiết chế ấy đã làm nên phẩm giá nhân văn của nó: không chiếm diễn đàn, không áp đặt cảm xúc, không nhân danh những điều to lớn, không ca ngợi reo hò mà chỉ là lời cầu nguyện thế tục, ca ngợi sự sống của lòng người, của những người Việt sống sót sau khi đã “can qua xứ xứ khổ đao binh” (Sấm Trạng Trình).
Bài hát từng bị chê “u buồn”, “thiếu khí thế”, và chỉ thật sự được công nhận sau khi Văn Cao qua đời (1995). Nếu Tiến quân ca là tiếng nói của lịch sử tập thể, thì Mùa Xuân đầu tiên là lời thì thầm của lương tri cá nhân, là mơ ước nhỏ nhoi về mùa Xuân không còn giết chóc, hận thù để con người được phép sống như con người và học lại cách yêu thương nhau.
“Từ đây người biết thương người,
Từ đây người biết yêu người…”
Với tinh thần ấy, tôi góp tay vào Quán Kỳ Nam và vẫn trân trọng mọi phản hồi khen chê dù đã được khuyên: giải thích thêm sẽ làm giảm độ “kỳ”, biện hộ nhiều sẽ biến kỳ thành trầm. Ai cần hiểu, sẽ hiểu muộn. Vậy xin được lên tiếng một lần, rồi thôi! Rằng riêng với tôi, đây không phải tác phẩm để luận hay/dở, thắng/thua, kể cả doanh thu. Nếu nó giúp ai đó chịu ngồi lại, chịu nhớ, chịu thương, thì mùa của “người biết yêu người” vẫn còn đang đến.
Austin, Noel 2025
Nguyễn Thị Minh Ngọc (theo TGHN)
Ngày đăng: 3/3/2026

























































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này