
16:14 - 02/03/2026
Nguyễn Hàng Tình: Thần linh lang bạt
Em bảo tôi đi tìm thần linh cho em. Đi tìm con người thì được, muốn bao nhiêu cũng thấy, đề huề. Nhưng tìm thần linh, hoặc đơn sơ nhất là dạng tâm thức nào đó về nó, mênh mông quá hỡi em.
… À mà, miền thượng, Tây Nguyên, có thể còn đó…
Có cô gái trẻ hạ nguồn bỗng ao ước được nhìn thấy một cuộc sống mang hơi thở nương tựa thiên nhiên, kiêng nể trời đất, vũ trụ của con người. Giữa thời đại lạnh lùng, có người em nhỏ nghĩ đến cái ơn nghĩa từ thiên nhiên là bất ngờ, hiếm hoi, đáng quí rồi.
Bản hòa âm muôn loài nhiệt đới vỡ
Tôi biết sự kiêng nể kia biểu hiện qua cảm thọ trời đất cùng tình yêu lẫn niềm tin của tha nhân sơn cước vào Yàng ở nơi ấy, cái vùng đất mà kon chau B’rum (1) gọi là xứ Kirata lùi sâu vào lục địa. Người Kinh ngày nay gọi là Tây Nguyên. Bòn nào, Plei (làng) nào, hìu rọt, hìu jầng (căn nhà dài, nhà sàn bằng gỗ) nào Yàng đang có mặt? Cái Mir (rẫy nương) nào có Yàng? Có cái Dà T’lung, Dà Chơróh (chỗ lấy nước uống) nào đang còn có Yàng Dà (thần cho nguồn nước uống) ở đó không? Và cái Ồs M’há (cái bếp) nào còn có Yàng M’há ở đấy, cho tôi bước vào để cảm nhận cái tinh thần đó với. Bếp lửa luôn là nơi thần có mặt để tạo nên từng bữa ăn nuôi sống con người và cả gia đình người ta quây quần bên nhau. Và còn có muôn loài sống trong rừng nhiệt đới, mà Yàng Bri che chở cho muôn loài.
Có khi nào giờ Yàng đã dồn về hết trên đỉnh núi cao nhất của miền thượng là Ngok Linh, Chư Prông, Kon Hà Nừng, Chư Yang Sin, hay Nâm Nung, Tà Đùng, Lang Biêng, Bi Doup, Brah Yang, S’Pung, Lơ Mu? Trên đấy có còn thanh bình để thần dám ở không, khi mà những đỉnh núi khác đã đầy dấu chân người và có những đỉnh người ta còn mở đường nhựa thênh thang cho xe hơi chạy vèo hoặc làm cáp treo đưa du khách lên tới đó để “selfie”, “check-in”?
Hay thần đã tụ vào những vực sâu là thác nước như Pongour, Dray Sáp, Dà Mbri…?
Nhưng tôi biết liên lạc làm sao, kết nối bằng cách nào đây để “chạm” tới Yàng? Ngày xưa người sơn nguyên dùng tiếng chiêng thành tâm đánh vang lên là liên thông được với trời xanh. Sứ mệnh của tiếng chiêng là thế, bày tỏ với Yàng điều muốn nói. Cũng để cam kết với thế giới tự nhiên rằng con người sống luôn tôn trọng và biết ơn tạo hóa, rừng núi, cảnh vật tự nhiên, mà không có phá hỏng cấu trúc thiên nhiên, khai hoang, tiêu hủy. Đó là tinh thần hiểu biết đạo trời mà thuận hòa, gọi là Chung Sống.
Lòng biết ơn là chỉ dấu cao nhất của ý thức nhân tính và văn minh, để con người khác những loài động vật khác trong hành tinh trái đất này. Nếu cần đất để mưu sinh là cúi đầu xin Yàng Bri (Thần rừng) làm lễ cúng, cho “lẩy” ra từ rừng gần làng một chút, mảnh nhỏ, vừa trồng đủ nguồn lương thực để ăn, không bao giờ vượt quá ba mảnh, và chỉ canh tác xoay vòng chu kỳ trong ba mảnh đất bé đó để cỏ dại, côn trùng và vi sinh vật có đủ thời gian mà tái tạo dinh dưỡng cho đất. “Chung sống” khác với sống khai hoang, qui mô, hàng loạt, cưỡng bức, khai thác, bóc lột thiên nhiên.
Đó là buổi miền thượng sơn nguyên đầy mê hoặc. Sức quyến rũ đến độ “tên trùm” thực dân, công sứ Sabatier, từ đi làm thuộc địa mà cuối cùng cũng phải thành nhà điền dã đời sống và văn hóa xứ sơn nguyên kia khi bị hấp dẫn bởi khan (sử thi) Tây Nguyên. Và ông ta chính là người đầu tiên ghi chép lại được “Trường ca Đam San” từ miệng của người bản địa để rồi sau này nó lừng danh và đưa cả vào giảng dạy trong sách giáo khoa quốc gia ở Việt Nam.
Jean Boulbet, cũng vì sự độc đáo của xã hội sơn cước mà trở thành nhà nghiên cứu về xã hội của cộng đồng thổ dân Maạ ở thượng nguồn sông R’ Nga, Dà Dờng (Đồng Nai). Nhà vi trùng học và thám hiểm địa lý A. Yersin nổi tiếng cũng dành những trang ghi chép thán phục về sự thuần hậu và tử tế của người K’ho, Cill, Lạch. Nhà nhân học Comdominas đã vì mê phục xã hội nương nhẹ theo thiên nhiên để sinh tồn mà xin được sống cùng với người M’ Nông Gar ở đầu nguồn sông K’Rông Nô để quanh năm đi làm Mir (rẫy lúa cạn) với sắc tộc ấy, rồi về sau ông còn viết ra cuốn điền dã lay động cả thế giới phương Tây với công trình “Chúng tôi ăn rừng – Đá thần Gôo”.
Jaques Dourner, từ một vị thừa sai với sứ mệnh sang Viễn đông, tìm lên đây để truyền đạo Công giáo; nhưng rồi đã phản lại cả đạo của mình khi cho rằng tôn giáo độc thần mà ông đang theo nếu du nhập lên đây sẽ triệt tiêu hết Yàng để chỉ còn nghĩ đến một Yàng (Đức Jesus), sẽ dẫn đến nguy cơ phá hỏng toàn bộ những giá trị lớn lao mà xứ sở đầy những lành thiện tử tế của con người đang có là tinh thần coi trọng mọi thứ, tôn quí mọi điều trong thiên nhiên nhờ có sự hiện diện cụ thể của nhiều thần. Ở nơi này con người quan niệm mọi vật mà con người có ân tình với nó đều có thần, một xã hội đa thần (nhiều Yàng). Đến mức, ông ta từ bỏ luôn cả đạo này lẫn nhiệm vụ kia để cả đời chuyển sang hàng ngày đi nghiên cứu và bảo vệ quĩ xã hội cùng văn hóa bản địa Tây Nguyên suốt hơn nửa thế kỷ trước.
Chính đây, chỉ có ở đây, là xứ sở hình thành nên nhiều bộ sử thi đồ sộ nhất trên lãnh thổ Việt Nam mà ở những thế kỷ trước, qua sử thi, người ta nhận ra lượng hiểu biết về thế giới tự nhiên, nguồn tri thức về nhiều lĩnh vực, cũng như sáng tạo và thế giới tinh thần của con người trong một cõi xứ của các sắc tộc bản địa ở Tây Nguyên.
Những bộ não điền dã khủng khiếp của giai đoạn lịch sử mà cả xứ An Nam lẫn Tàu kia còn mới chỉ biết tập trung chính vào sự sinh tồn sinh học (cái ăn), nhưng họ, như nhà xã hội-thảo mộc Henri Maître, chính Tây Nguyên đã cho ông niềm cảm hứng đủ lớn và chất liệu đặc biệt để đẻ ra công trình khoa học đa ngành: “Rừng người Thượng” lớn lao; và Jacques Dournes kia đã tạo nên công trình nhân học kinh điển:“Miền đất huyền ảo” dựng ra văn bản sinh động về cái xã hội người đời trong phông nền đại ngàn kia; còn Jean Boulbet đã đưa ra với thế giới công trình xã hội học thú vị: “Xứ người Mạa – lãnh thổ của Thần linh”…

Người K’ho ở Di Linh cúng xin con trâu cho được hiến tế trong Lễ Mừng Thần Lúa mới. Ảnh: Ndong Brum.
Buôn sỉ, bán lẻ Thần linh
Tinh thần rừng, tinh thần thuận thiên quyện vào và làm thăng hoa đời sống. Không chỉ riêng địa bàn của sắc tộc Maạ, mà mọi địa bàn ở Tây Nguyên với những sắc tộc bản địa khác cũng đều là xứ sở của Thần linh. Rằng, người ta sống luôn nghĩ về thế giới tự nhiên và không gian cho mình sự sống, sinh tồn. Người ta Lở Yàng (cúng Thần). Lễ hội “Cúng mừng Thần lúa mùa mới” – “Kòi batus lở Yàng”, cùng “Sa lở Yàng rơbu” với chỉ mượn con trâu để hiến tế, tạ ơn trời đất / Thần đã cho có hạt lúa để ăn. Trước khi “đụng” vào con trâu đó, ngày hôm trước lễ người ta có làm một lễ / nghi thức cúng để “trò chuyện” riêng với con trâu xin phép trâu cho được hiến tế nó cho Yàng, xin nó hãy vì cộng đồng, mùa màng, sự sống của con người tham gia vào việc này bằng cho đi sinh mạng cao cả.
Từ một hành động (lễ) vi tế cao cả vì Thế giới tinh thần của cộng đồng bị biến thành cách để những người không thuộc cộng đồng và chẳng dính đến nền văn minh thảo mộc kia “kiếm tiền”, làm giàu bằng “dịch vụ” và đưa lên “sân khấu”, mạng Internet. Từ đó, thị dân salon ở nhiều nơi hiểu lệch lạc hoàn toàn về tinh thần của nhiều lễ hội truyền thống của người miền thượng oan uổng cho tha nhân lẫn trâu.
Phá rừng tản mát và làm lễ hội cho mục tiêu kiếm tiền là kiểu bán lẻ Thần linh. Phá trắng rừng để lấy đất và gỗ là bán sỉ Thần linh. Người bản địa sơn cước khi đánh lên tiếng chiêng hay làm lễ hội là theo nắng mưa, tiết khí, mùa màng vận hành cuộc sống. Tiếng chiêng vang lên là họ đang hướng về rừng.
Không những ở “Kòi batus lở Yàng” mà những sinh hoạt lễ truyền thống vốn có của người sơn nguyên cũng méo mó, dẫn chuyện đi theo một hướng khác: xa Thần. Xa thần thì dễ kiếm… tiền. Một xã hội, khi mà mọi thứ không dựa trên nền tảng văn hóa để vận hành thì nó dễ dàng bị đánh cắp, ăn gian, bất chấp, biến tướng đủ kiểu, ở mọi lĩnh vực, ngành nghề, không gian sống. Càng bao dung, trượng phu, vị tha thì những kẻ ranh mãnh, ăn gian càng khai thác vô lối, trái đường, tranh thủ đoạt cho hết lợi lộc. Vì hết rừng nguyên sinh rồi, thì hướng vào đâu để đánh chiêng, để nuôi dưỡng và làm mọi thứ lễ ?!
Thần “đẻ” ra rừng. Rừng “đẻ” ra người… sơn nguyên. Người (tâm hồn – nhận thức – trí não) “đẻ” ra thần. Vạn vật ở miền nhiệt đới Tây Nguyên đều có trú xứ là sinh giới Rừng, và từ tinh thần linh diệu của thiên nhiên, rừng. Kiểu gì thì mọi thứ cũng xoay quanh rừng, từ rừng.
Thoáng chốc đại ngàn biến mất như hơi nước bốc lên. Rừng bị hạ trắng sạch là bằng chứng rõ ràng của sự con người không còn từ bi. Không chỉ “chạy trốn” khỏi Tây Nguyên, thần linh hết đường sống trên hành tinh này rồi.
Dù chưa chắc rốt cuộc trên trần gian thế giới sống nào đúng đắn – cao sang – vĩ đại hơn thế giới nào, song chỉ cần bắt đầu nhìn vào mỗi mùa mưa bão biến động của chốn núi rừng xưa thông qua “kẻ cộng sự” thiên tai đã trùm xuống không gian từ miền thượng đến hạ nguồn với nhấn chìm và sạt lở núi non kinh hoàng khắp nơi đã lóe ra nhân – quả. Liệu cái thế giới nặng tình, hữu ơn, đa cảm có bị đè bẹp trước thế giới máu lạnh hàng hóa hóa mọi thứ trong rừng núi. Mà nhiều thứ để chế tạo và đều là hàng hóa đó đều lấy từ mặt đất lẫn tầng dưới của mặt đất. Loài người “trục xuất” Yàng ra khỏi rừng, chỉ cần dọn sạch rừng thì thực thể siêu hình đó hết “đất sống” thôi. Cho họ đi lang thang, lang bạt, vất vưởng, hoặc làm “hành khất rừng” ở đâu đó đi.
Ồ, rốt cuộc trú xứ của Yàng về mặt vật lý lại là không phải ở rừng, mà lại ở trong sự từ bi của bàn tay người. Lạ không!?
Yàng ơi!
Không còn những mùa lúa cạn để cùng hân hoan với Yàng Kòi (Thần lúa) đâu. Cũng chẳng còn tiếng đàn Tơrưng nào bên các dòng suối nữa. Những con suối đẹp đẽ có địa thế đáng để đặt đàn tơ-rưng nước trên nền thủy vận đó người ta đã chặn để làm đủ thứ đập. Cũng chẳng còn lễ cầu mưa, lễ cầu an lành nào nữa. Chẳng còn thấy cúng rừng, cúng cây, cúng rẫy, cúng khe, cúng suối, cúng đầm lầy, cúng sông, hồ. Lâu lắm rồi cũng chẳng thấy sơn nhân nào lạy con vật nuôi nào nữa. Cũng chẳng thấy cúng hạt lúa mới, nông phẩm mới. Và cũng chẳng mấy ai còn làm lễ thổi tai (rước Thần vào cơ thể để tạo linh hồn người cho một sinh linh từ đó mới thành người) cho một đứa trẻ vừa ra đời. Cũng khó thấy lại những lễ Pơthi (bỏ mả) và cảnh trí nghĩa địa người bản địa cứ như một vườn trưng bày nghệ thuật điêu khắc dân gian tuyệt tác để tặng cho người thân đã khuất. Và cũng chẳng có các nghi thức đặc chất “rừng” khi cúng nhà cửa vừa làm xong trước khi bước lên ở nữa.
Rừng núi đã biến mất thì “Yàng” đang trú ở đâu để mà tế, cúi đầu, vái, tạ ơn, cúng. Yàng lưu lạc, hay tỵ nạn ở nơi đâu giờ ai mà biết được nữa. Tội nghiệp “Thần” không nhà cửa, nơi nương náu đúng nghĩa là nơi “ngự trị”. Có thể Thần linh đi hành khất rừng ở đâu đó rồi. Hành khất trong sự vắng bóng của cây nguyên sinh, trong hư vô của núi rừng, ảo ảnh của rừng. Có thể là những cá thể hoặc những “đoàn thần” đi vất vưởng. Từ đại ngàn mênh mông không thấy cả chân trời, như vô tận, giờ hành khất kham nhẫn thiết tha mà cũng không ra rừng. Rừng không còn thì tiếng chiêng đánh vào đâu? Trong thâm sâu của họ, tiếng cồng chiêng là âm thanh lên lạc với siêu nhiên, là liên thông, phương tiện để kết nối cuộc sống người thế gian với quyền năng, lòng tốt cao xanh, để chia sẻ, bày tỏ, hoặc cầu sự che chở cho sông núi, ruộng rẫy, vật nuôi, con người, nhà ở, bòn (làng), buôn.
Một sinh thái sống ngợp thở, và phát triển theo tư duy về của cải ngợp thở. Nhưng hậu quả khai hoang, khai thác sơn nguyên thì đến giờ hoàn toàn chưa hề điềm tĩnh ngồi lại để tự vấn hay tự “tính sổ”, và nguy nhất là không hề có nhận thức về cái mất đó. Khi không gian sinh tồn biến đổi theo hướng ngược lại với tính lành, thiện và sự trung thực, nó sẽ thay đổi luôn nhận thức, lối sống, và tâm hồn người đời, cái “lõi” cũng đổi.
Xưa Tây Nguyên không chao đảo bởi đại dương vào những mùa biển động, giông bão. Nay thì Tây Nguyên cũng hồi hộp, tròng trành, sạt lở khắp nơi vào mỗi mùa mưa bão. Suối lớn và sông dài thành “sa mạc” vào mùa khô bởi hàng trăm thủy điện lớn nhỏ xây đập chặn dòng nước tự nhiên của núi, là mạch máu của rừng. Miền thượng nằm lâm sàng cho muôn ngàn toan tính để trục lợi, khai thác, cho những cuộc tận thu cuối cùng từ những giọt tài nguyên cuối cùng.
Chỉ khi con người được sống tự nhiên nhất, mới có sinh thái cùng cấu trúc và nguồn “dinh dưỡng” cho hình thành nhân bản. Tây Nguyên là xứ sở của một thế giới thiện lành nhờ nương vào rừng núi thiên nhiên để sống.
Bút ký Nguyễn Hàng Tình (theo TGHN)
Ngày đăng: 2/3/2026
————-
(1) Người Chăm – âm chữ của người bản địa Tây Nguyên gọi người sống dưới ven biển kia.


























































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này