
12:09 - 27/02/2026
Khúc quanh ‘sái cổ’
… Bạn có biết, món ăn ưa thích của chuồn chuồn kim là rầy nâu và rầy cổ trắng?, khá bất ngờ khi Jurgen Ott, CHLB Đức, Chuyên gia về Côn Trùng, kết nối nhận thức cổ xưa ở xứ mình. Chuồn chuồn dự báo thời tiết bay cao bay thấp bay vừa hiện nay không còn thấy ở nhiều nơi.
Làm nông – dừng liên kết với tự nhiên từ khi nào?
Thế giới có 6.400 loài chuồn chuồn, hơn 500 loài trong số này được ghi nhận – một con số khổng lồ so với 143 loài ở Châu Âu. Đối với TS Jurgen Ott, Giám đốc điều hành Công ty L.U.P.O GmbH, đó là chỉ thị sinh học (bio-indicator) để đánh giá sức khỏe và sự cân bằng sinh thái của hệ thống canh tác lúa.
Nhiều vùng ngập nước, nhìn bằng mắt thường “thấy có vẻ tốt” nhưng thực ra “không có sự sống”. TS Jurgen Ott khẳng định: Chính sự hiện diện, mật độ và đa dạng của chuồn chuồn phản ánh trực tiếp mức độ ô nhiễm thuốc trừ sâu và sức khỏe tổng thể của hệ sinh thái nông nghiệp. Trong một tuần theo dõi mà chỉ thấy một con ếch và vài ba cánh bướm, cũng có nghĩa sự suy giảm đa dạng sinh học trên diện rộng và nghiêm trọng rồi. Phải bảo vệ và tạo ra sinh cảnh tự nhiên để các loại sinh vật hữu ích có thể đến sinh sống và hoàn thành vòng đời.
The International Symposium on Organic Farming and Production 2025 (ISOP), Đại học Cần Thơ, trong khuôn khổ Nghị định thư giữa Việt Nam và CHLB Đức, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Đại học Liên Hợp Quốc về Môi trường và An ninh con người (UNU-EHS), ĐH Bonn; Khoa Sinh học Bảo tồn & Hệ thống Xã hội-Sinh thái tại UFZ; Trung tâm Nghiên cứu Jülich, Thành viên Ủy ban Khoa học của Cơ quan Môi trường châu Âu (EEA) đã chia sẻ.
“Tôi quan tâm các loài thụ phấn và thiên địch, sự suy giảm các loài này trong quá trình canh tác thâm canh và lạm dụng nông dược hóa chất không chỉ đe dọa năng suất mà còn làm mất đi khả năng tự điều chỉnh của hệ sinh thái nông nghiệp”, GS.TS Josef Settele, Trưởng khoa UFZ, xem đây là lý do để Nông nghiệp Sinh thái (Agroecology) trở thành mô hình toàn diện, giúp khôi phục các mối liên kết tự nhiên giữa đa dạng sinh học và sản xuất.
Thiên đường xanh
Hiện thực hóa dự án 1.000.000 ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở ĐBSCL, có thể xem là dấu ấn lữ hành hướng tới thiên đường xanh.
Khi Bộ NN&MT công bố Quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL (Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, ban hành ngày 10/11/2025) và quy trình Giám sát, Báo cáo và Thẩm định (MRV) sẽ được hoàn thiện và ban hành vào khoảng tháng 10/2026, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng, chuyên gia Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) cho rằng ViRiCert là cơ sở để chứng nhận sản phẩm đạt nhãn hiệu Gạo Xanh và Carbon Thấp. Phương pháp đánh giá của công cụ ViRiCert được xây dựng với 10 khâu thực hành quan trọng xuyên suốt quy trình canh tác, từ quản lý nước trước vụ, làm đất, gieo sạ, bón phân, quản lý dịch hại đến thu hoạch và xử lý rơm rạ.
TS Joachim H. Spangenberg, Trung tâm Nghiên cứu Jülich, thành viên Ủy ban Khoa học của Cơ quan Môi trường châu Âu (EEA) cho rằng lợi ích kinh tế lớn nhất chính là việc phục hồi đất để ổn định và tăng năng suất lúa trở lại. Tuy nhiên, theo ông rào cản lớn nhất đang nằm ngay trong cơ cấu chi phí – lớn nhất là phân bón tổng hợp. Việt Nam không có nhiều sản phẩm phân bón hữu cơ sản xuất trong nước đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế. Điều này buộc nông dân phải mua phân nhập khẩu, chi phí rất cao, lợi nhuận thu được giảm đáng kể.
Hành trình xanh, theo bà Gioia Emidi làm việc tại UNU EHS, canh tác hữu cơ mang lại một tập hợp các lợi ích đa dạng và đan xen đáng kể, vượt ra ngoài các yếu tố kinh tế đơn thuần. Hệ sinh thái ruộng lúa hữu cơ cho phép thực hiện các mô hình sản xuất kết hợp trên đồng ruộng như lúa-cá, lúa-tôm hay rau màu, thậm chí sự xuất hiện đàn ong mật, nông dân vừa có nguồn thu nhập bổ sung vừa có thêm rau lành mà trước đây chính mình không dám ăn vì sợ hóa chất.
Về mặt môi trường, canh tác hữu cơ giúp cải thiện chất lượng đất, nước, đồng thời thúc đẩy sự gia tăng đa dạng sinh học (cá đồng, thiên địch) và tăng cường sức đề kháng cho cây lúa. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy sự thành công và tối đa hóa các lợi ích này có mối liên hệ mật thiết đến việc sử dụng giống lúa chất lượng cao như ST24, ST25 – có các đặc tính ưu việt về kháng bệnh và chống chịu mặn.
Theo bà, gia tăng thu nhập được xem là động lực hàng đầu, nhưng những cải thiện đáng kể về sức khỏe cá nhân, gia đình và cộng đồng do giảm tiếp xúc với hóa chất cũng đóng vai trò then chốt.
TS Jack O’Conner, Viện Đại học Liên Hợp Quốc về Môi trường và An ninh con người, băn khoăn khi nói rằng hệ thống thủy lợi ĐBSCL dựa vào sông Mekong để cung cấp nước cho hàng triệu hecta đất canh tác, rất nhạy cảm với các mối đe dọa như lũ lụt, xâm nhập mặn. Thách thức nghiêm trọng từ chất lượng nước bề mặt: một số nguồn nước ở vùng ĐBSCL có lẽ không đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết cho canh tác hữu cơ. Đặc biệt, khi nói đến các yếu tố độc hại hoặc ô nhiễm.
Vì lý do này, TS Jack O’Conner, đã tham gia xây dựng các chiến lược tưới tiêu liên lạc (interlinked irrigation strategies) cho vùng ĐBSCL, nơi hiện chưa có nhiều chiến lược rõ ràng – đặc biệt trong bối cảnh sản xuất lúa hữu cơ.
Reuters dẫn kết quả nghiên cứu của tổ chức tư vấn Stimson Centre hôm 24/11/2025, trên khắp Đông Nam Á, hơn 2.400 mỏ khai thác vàng và đất hiếm – phần lớn trong số đó là bất hợp pháp và không được quản lý. Sự xuất hiện của các mỏ đất hiếm mới do Trung Quốc hậu thuẫn ở miền đông Myanmar, không xa biên giới miền núi với Thái Lan, ban đầu đã làm dấy lên mối lo ngại trong số các nhà nghiên cứu về nguy cơ ô nhiễm hạ lưu dọc theo sông Kok, bao gồm các khu vực như Tha Ton, có thể thải ra các hóa chất chết người như xyanua và thủy ngân vào nước sông lớn như sông Mekong, sông Salween và sông Irrawaddy.
Brian Eyler, thành viên cấp cao tại Stimson, chỉ ra các hóa chất độc hại thải ra trong quá trình khai thác đất hiếm không được kiểm soát bao gồm amoni sunfat, natri xyanua và thủy ngân được sử dụng cho hai loại khai thác vàng khác nhau.
Rào cản này khiến kết nối giữa 1 triệu ha lúa chất lượng cao phát thải thấp với Organic phát tín hiệu không liên tục, phải tốn nhiều công sức để minh chứng.
Con đường đúng đắn
GS Wulf Amelung, lưu ý ba rủi ro lớn mà hệ thống canh tác hiện tại ở ĐBSCL đang phải đối mặt: suy giảm đa dạng sinh học, biến động hàm lượng đạm (nitơ) và vấn đề truy xuất nguồn gốc khí thải. Khung Đa dạng Sinh học Toàn cầu (GBF) Kunming-Montreal, một thỏa thuận quốc tế quan trọng, gồm 23 mục tiêu nhằm giảm thiểu ô nhiễm và thúc đẩy quản lý bền vững trong các lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp, Việt Nam nên cập nhật. Đặc biệt vai trò ĐBSCL, là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi cung ứng lúa gạo quốc tế.
Người Trung Quốc bắt đầu canh tác lúa cách đây 6.700 năm, việc quản lý và khai thác đất canh tác đã làm thay đổi nồng độ và hợp chất sinh hóa trong đất khi canh tác thâm canh. Sự thay đổi này làm tăng thất thoát carbon, đe dọa trực tiếp đến khả năng chống chịu của đất trước biến đổi khí hậu. Muốn giải quyết vấn đề nitơ, carbon và phục hồi độ màu mỡ của đất, họ chôn vùi rơm rạ vào tầng đất mặt, sâu khoảng 20-30 cm dưới lòng đất. Các cuộc thử nghiệm suốt 17 năm, GS Wulf Amelung gọi nôm na “nhốt carbon” (carbon sequestration) trong đất. Hiện nay, Trung Quốc và Philippines đều thừa nhận phương pháp này gia tăng sản lượng cả lúa gạo và lúa mì, giảm phát thải khí nhà kính và giảm việc sử dụng thuốc trừ cỏ; tăng trưởng vi sinh trong đất.
Đa dạng sinh học là một yếu tố cơ bản quyết định sự phát triển bền vững, không chỉ là vấn đề môi trường đơn thuần mà phải khôi phục đa dạng sinh học trong môi trường nông nghiệp. Chuyển đổi sản xuất lúa của ĐBSCL nên kết nối với bối cảnh sức khỏe hành tinh và các thách thức toàn cầu. Việt Nam nên xem đây là một phần của chiến lược quốc gia nhằm đáp ứng các cam kết toàn cầu. Làm việc trong cơ quan đánh giá đa dạng sinh học (IPBES) phục vụ cho 150 quốc gia thành viên, GS TS Josef Settele đưa ra lời khuyên.
Việt Nam cần thắt chặt kết nối giữa khoa học và chính sách để chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, sử dụng khoa học và đổi mới sáng tạo, vừa bảo tồn thiên nhiên vừa nâng cao uy tín quốc tế và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Ông nhấn mạnh sản xuất bền vững không phải là lựa chọn mà là trách nhiệm toàn cầu.
Sự xuất hiện trở lại của đa dạng sinh học trong ruộng lúa có các loại cây hoa thu hút côn trùng thụ phấn; lồng ghép văn hóa – gắn kết giá trị bảo tồn vào các thực hành canh tác và chính sách phát triển để đảm bảo tính bền vững lâu dài, kiểm soát chất lượng nước theo thời gian thực, cải tạo vật chất toàn diện; ứng dụng công nghệ kết nối giữa đa dạng sinh học, văn hóa và các mục tiêu phát triển bền vững… tập trung vào sự đổi mới sáng tạo trong thiết kế cảnh quan, sẽ tạo ra bức tranh hài hòa hơn cho nông nghiệp ĐBSCL.
Đó là cách minh định di sản nông nghiệp quan trọng của vựa lúa này trong mối quan hệ toàn cầu.
Nguyễn Nguyên – Ngọc Bích (theo TGHN)
Ngày đăng: 27/2/2026
























































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này