
10:56 - 12/09/2026
Khởi nghiệp Xanh miền Trung – Tây Nguyên: Từ rác chợ, xương cá đến cánh rừng có voọc
Một trạm xử lý rác chỉ rộng khoảng 20m² liệu có thể tiếp nhận 100 kg rác hữu cơ mỗi ngày, vừa ủ vi sinh, vừa nuôi ấu trùng ruồi lính đen và tạo ra sản phẩm thương mại?
Một hũ bột nêm làm từ đầu, xương cá có gì đủ khác biệt để người tiêu dùng bỏ một sản phẩm quen thuộc và mua thử một thương hiệu mới?
Và một chuyến đưa trẻ vào rừng xem voọc chà vá chân xám sẽ dừng ở một tour trải nghiệm, hay có thể trở thành một mô hình giáo dục và bảo tồn có khả năng kinh doanh lâu dài?
Đó là những câu hỏi liên tục được đặt ra trong phần thi Bảng A, vòng bán kết Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh khu vực miền Trung – Tây Nguyên, diễn ra tại Bảo tàng Thế giới Cà phê, Đắk Lắk.
Ở vòng này, nhiều dự án đã đi qua giai đoạn “có một ý tưởng xanh”. Một số đã có sản phẩm, có khách hàng, có doanh thu. Vì vậy, câu hỏi của ban giám khảo cũng chuyển sang một tầng khác, mô hình có thật hay không, số liệu có đứng được hay không, khách hàng có mua lại hay không và quan trọng hơn, dự án có đủ sức sống ngoài cuộc thi hay không.
Một trạm rác 20m² và cuộc phản biện về những con số

Thành viên dự án Zero Waste City – Nuôi ấu trùng ruồi lính đen từ rác hữu cơ
Phần thi tạo ra nhiều tranh luận nhất đến từ dự án Zero Waste City – Nuôi ấu trùng ruồi lính đen từ rác hữu cơ của Trương Tử Long, Đà Nẵng.
Ý tưởng của dự án khá rõ, thay vì gom toàn bộ rác hữu cơ từ chợ, khu dân cư rồi đưa đi xa để xử lý, những trạm nhỏ được đặt gần nơi phát sinh rác. Rác hữu cơ trở thành thức ăn cho ấu trùng ruồi lính đen, thường được gọi là sâu canxi. Sau quá trình xử lý, dự án kỳ vọng tạo ra thức ăn chăn nuôi, giá thể trồng cây và nguồn thu từ dịch vụ xử lý rác.
Trong phần trình bày, Trương Tử Long cho biết, một trạm có thể bố trí trên diện tích khoảng 20m², công suất khoảng 100 kg rác mỗi ngày. Mức đầu tư khoảng 100 triệu đồng. Nhưng những con số khiến TS Phan Văn Minh đặt vấn đề.
TS Minh yêu cầu nhóm trình bày lại từng công đoạn, thời gian lưu rác và cách sử dụng vi sinh. Theo ông Minh, nếu rác phải qua khoảng 15 ngày xử lý, với 100 kg rác đưa vào mỗi ngày, dự án phải tính được lượng vật chất tồn tại trong hệ thống ở từng thời điểm.
Nói cách khác, bài toán không nằm ở một con số “100 kg mỗi ngày”, mà ở chỗ toàn bộ khối lượng rác đang cùng tồn tại trong chu trình đó được bố trí ở đâu trong một diện tích 20m².
Ông Minh cũng yêu cầu nhóm sử dụng chính xác thuật ngữ kỹ thuật đối với nước phát sinh từ rác và làm rõ vai trò thực sự của các chủng vi sinh được sử dụng.
Sự phản biện tiếp tục được đẩy xa hơn khi bà Nguyễn Thị Quỳnh Viên đặt vấn đề về nước rỉ rác. Từ kinh nghiệm từng nghiên cứu xử lý nước rỉ rác, bà cho rằng dự án phải chứng minh bằng quy trình và các chỉ tiêu cụ thể nếu muốn nói đến khả năng biến dòng nước này thành sản phẩm sử dụng cho cây trồng.
Bà đặt thẳng câu hỏi? trạm 20m² đã thực sự hoạt động hay mới tồn tại trên ý tưởng? Trương Tử Long trả lời rằng mô hình đã được triển khai thực tế tại Đà Nẵng từ năm 2024 và hiện có khả năng tự cân đối một phần thu – chi vận hành.
Nhưng khi câu chuyện kỹ thuật tạm lắng xuống, ông Vũ Trung Hòa lại kéo dự án trở về một câu hỏi khác không kém phần khó, ai sẽ trả tiền cho mô hình này?
Theo ông Hòa, sử dụng vi sinh hay ấu trùng để xử lý chất hữu cơ không còn là câu chuyện quá mới. Giá trị của dự án chỉ được chứng minh khi trả lời được mô hình kinh doanh.
Nếu phí thu gom và xử lý rác tại địa phương thấp, liệu tiểu thương hay chính quyền có chấp nhận một giải pháp có chi phí cao hơn? Nếu doanh thu từ sâu canxi, giá thể và các sản phẩm phụ không đủ bù chi phí, dự án sẽ nhân rộng bằng cách nào?
Đây có lẽ cũng là bài toán lớn nhất của Zero Waste City.
Ông Hòa nói, ý tưởng “rác trở thành tài nguyên” nghe rất hấp dẫn. Nhưng ở quy mô thương mại, rác chỉ thực sự trở thành tài nguyên khi giá trị tạo ra lớn hơn chi phí để thu gom, phân loại và xử lý nó.
Từ đầu, xương cá Quảng Ngãi đến câu hỏi: Vì sao khách hàng phải mua?
Nếu Zero Waste City bị chất vấn bằng bài toán kỹ thuật và vận hành, dự án bột nêm hải sản đa dụng LYSOTRA của Lê Ngọc Thuận, Quảng Ngãi, lại phải đối diện câu hỏi điển hình của thị trường tiêu dùng: sản phẩm có gì để khách hàng mua lần đầu và quay trở lại?
Thuận bắt đầu dự án từ một thực tế của vùng biển quê mình. Hải sản được bán tươi hoặc sơ chế tạo ra lượng đầu, xương và phần nguyên liệu còn lại khá lớn. Thay vì trở thành chất thải, nhóm thử đưa nguồn nguyên liệu này vào chế biến sâu để tạo bột nêm hải sản.
Sản phẩm kết hợp nước hầm từ đầu, xương cá với tôm, tép, mực, cá cơm cùng nấm và rau củ. Dự án đã đi được một đoạn quan trọng mà nhiều nhóm khởi nghiệp còn thiếu: sản phẩm đã bán ra thị trường.
Riêng hai tháng 7 và 8/2026, 246 hũ được bán trên Shopee với doanh số hơn 10,5 triệu đồng. Sản phẩm đạt mức đánh giá 4,9/5 sao từ những lượt phản hồi được ghi nhận trên sàn.
Nhưng vài trăm hũ hàng đầu tiên chưa đủ để giải quyết câu hỏi mà ông Vũ Trung Hòa đặt ra. Ông Hòa nói, Việt Nam vốn có một thị trường gia vị rất phong phú. Vậy khi đứng cạnh hàng loạt loại hạt nêm, gia vị rau củ và gia vị hải sản đã quen thuộc, LYSOTRA có lý do nào đủ mạnh để người mua đưa tay lấy sản phẩm?
Thuận nói về nguồn canxi tự nhiên từ hải sản và tính đa dụng của sản phẩm. Ngoài nêm nếm, gia vị còn có thể kết hợp làm đồ chấm.
Nhưng ông Hòa lưu ý rằng nguyên liệu hải sản thường có giá thành cao hơn nguyên liệu thực vật. Khi mức giá tăng lên, người tiêu dùng cũng sẽ cân nhắc kỹ hơn.
TS Phan Văn Minh tiếp tục đưa cuộc trao đổi trở về bằng chứng khoa học.
Theo ông, ý tưởng tận dụng phụ phẩm hải sản là tích cực nhưng một sản phẩm thực phẩm phải chứng minh chất lượng bằng số liệu kiểm nghiệm. TS Minh đặt câu hỏi về hàm lượng protein, chỉ số thể hiện vị umami cũng như cơ sở khoa học cho những khác biệt mà dự án đang đưa ra.
Điều đáng chú ý là hồ sơ của LYSOTRA đã có một số dữ liệu kiểm nghiệm, trong đó ghi nhận hàm lượng protein 32,85g/100g, cùng các kết quả kiểm tra vi sinh. Dự án cũng cung cấp hồ sơ tự công bố sản phẩm và chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm.

TS Phan Minh chất vấn dự án thi
Trong khi đó, giám khảo Nguyễn Đông Triều đặt ra lại nằm ở chiến lược. Ông cho rằng nếu LYSOTRA lao thẳng vào thị trường hạt nêm phổ thông, chi phí để khiến khách hàng hiểu và thử một thương hiệu mới sẽ rất lớn.
Một hướng đi có thể cần cân nhắc là tìm một thị trường ngách rõ hơn, nơi giá trị của nguyên liệu và giá trị dinh dưỡng có thể được khách hàng nhìn nhận nhanh hơn.
Bởi tận dụng phụ phẩm là câu chuyện hay về môi trường. Nhưng người đứng trước quầy hàng hiếm khi mua một hũ gia vị chỉ vì doanh nghiệp đã giúp xử lý đầu và xương cá. Họ mua vì ngon, tiện, phù hợp nhu cầu và đáng với số tiền phải trả.
La hán quả, củ nưa và câu chuyện bán một bữa ăn quen thuộc theo cách khác
Ở dự án của HTX PQ Healthy Foods, Gia Lai, câu chuyện lại bắt đầu từ hai thứ nguyên liệu rất khác nhau: la hán quả và củ nưa. Một bên có thể tạo chất ngọt thay thế đường. Một bên chứa glucomannan và có thể chế biến thành những sản phẩm thay thế nhóm thực phẩm giàu tinh bột.
Nhóm không bán nguyên liệu thô mà tìm cách đưa chúng trở lại những hình thức thực phẩm quen thuộc với người Việt như bún, phở, bánh canh hay chất tạo ngọt.
Trong phần trình bày, dự án cho hay, doanh thu những tháng gần đây đạt khoảng 50 triệu đồng mỗi tháng qua các kênh thương mại điện tử. Vùng la hán quả đầu tiên khoảng 0,5 ha đã được triển khai, trong khi cây nưa đang tiếp tục được khảo sát và trồng thử.
Giám khảo Vũ Trung Hòa hỏi bún nưa có ngon không, có mùi hay độ dai khó chịu không, phải sơ chế như thế nào và giá bao nhiêu.
Dự án cho biết một set bún nưa có giá khoảng 31.000 đồng, thấp hơn một số sản phẩm so sánh mà nhóm khảo sát trên thị trường.
Từ đây, ông Hòa cho biết sẽ sẵn sàng kết nối sản phẩm với hệ thống cửa hàng thực phẩm tại Hà Nội nếu chất lượng ăn thử đáp ứng yêu cầu. Đó có thể xem là một “bài kiểm tra thị trường” rất thực tế.
Ban giám khảo đồng thời yêu cầu nhóm làm rõ hơn cấu trúc tài chính, đặc biệt tách vốn đầu tư tài sản, máy móc với chi phí vận hành để thấy chính xác hiệu quả kinh doanh.
Khi chiếc bao thức ăn chăn nuôi trở thành một chiếc túi
Trong khi nhiều dự án tìm công nghệ để xử lý rác, Nguyễn Thị Lan, chủ dự án Sợi Xanh Kết Nối, chọn một con đường trực tiếp hơn, lấy chính thứ đang bị xem là rác và biến nó thành sản phẩm.
Bao thức ăn gia súc, banner quảng cáo cũ, vải jean hay vải vụn được làm sạch, xử lý rồi cắt may thành túi và phụ kiện. Lợi thế của Lan là người có 15 năm làm trong ngành may.
Sau tám tháng hoạt động, sản lượng của nhóm tăng từ khoảng 10 sản phẩm mỗi tháng lên khoảng 100 sản phẩm. Mức giá bán lẻ hiện vào khoảng 120.000–180.000 đồng mỗi sản phẩm.
Ban giám khảo đánh giá đây là một mô hình tương đối dễ hình dung về khả năng thương mại. Nhưng cũng từ đây nảy sinh một câu hỏi, một chiếc túi làm từ vật liệu bỏ đi nên được bán như đồ tái chế giá rẻ hay trở thành một sản phẩm thiết kế có giá trị cao?
Gợi ý của giám khảo Đông Triều là đi theo hướng thứ hai. Thay vì để người mua nhìn thấy trước tiên một chiếc bao thức ăn gia súc được tái sử dụng, dự án có thể biến những họa tiết sẵn có trên vật liệu thành điểm nhận diện thiết kế.
Một hình con cò, con heo hay một mảng chữ được đặt đúng vị trí có thể biến “dấu vết của vật liệu cũ” thành đặc điểm riêng của từng chiếc túi. Đây cũng là nơi kinh tế tuần hoàn gặp thiết kế.
79 cá thể voọc và bài toán giữa giáo dục với du lịch

Tam Mỹ Forest Learning của Trần Thị Thu Hà
Một câu chuyện khác tại khu rừng Tam Mỹ của dự án Tam Mỹ Forest Learning của Trần Thị Thu Hà, Quảng Nam, xây dựng mô hình giáo dục trải nghiệm dựa trên hệ sinh thái rừng và sinh cảnh của voọc chà vá chân xám.
Trẻ em tham gia chương trình có thể quan sát voọc bằng ống nhòm, làm Eco-Kit, tìm hiểu cây rừng, sau đó tham gia hoạt động nông nghiệp và văn hóa cộng đồng trước khi nhận chứng nhận “Đại sứ xanh”.
Dự án đã tổ chức hai chương trình có thu phí với tổng cộng 39 trẻ, đạt doanh thu 10,25 triệu đồng. Mỗi học sinh tham gia được trích 5.000 đồng cho hoạt động bảo tồn, còn 25% doanh thu dự kiến được chia sẻ cho cộng đồng địa phương tham gia chương trình.
Nhưng giám khảo Đông Triều cho hay, điều gì khiến Tam Mỹ Forest Learning khác một tour du lịch sinh thái?
Thí sinh cho rằng lợi thế nằm ở chính hệ sinh thái địa phương với quần thể voọc chà vá chân xám, cùng sự phối hợp với các nhóm bảo tồn và đội tuần tra cộng đồng.
Theo thông tin dự án trình bày tại cuộc thi, khu vực này có 79 cá thể voọc chà vá chân xám. Con số đó tạo nên một lợi thế đặc biệt, nhưng đồng thời kéo theo một trách nhiệm lớn hơn.
Bởi một mô hình càng đưa nhiều người vào tiếp cận môi trường tự nhiên thì câu hỏi về sức chịu tải của hệ sinh thái, tác động tới động vật hoang dã và an toàn của trẻ càng phải được đặt ra nghiêm túc.
Từ đây, giám khảo Trần Quốc Bảo đề nghị dự án xác định rõ trọng tâm, đây là giáo dục, bảo tồn hay du lịch trải nghiệm. Cùng với đó là yêu cầu xây dựng quy trình quản trị rủi ro, đặc biệt khi đối tượng tham gia là trẻ em và không gian hoạt động nằm trong rừng.
Câu chuyện của Tam Mỹ cho thấy, một tài nguyên thiên nhiên quý hiếm có thể tạo ra giá trị kinh tế. Nhưng chính khi giá trị kinh tế tăng lên, áp lực bảo vệ tài nguyên đó cũng tăng theo.
Một số hình ảnh các dự án thi:

Bài ảnh: Trí Dũng
Ngày đăng: 12/9/2026
Có thể bạn quan tâm
Liên kết chuỗi mới có trái cây chuẩn
Wanda Fish ‘xanh hóa’ ngành công nghệ thực phẩm
Nông sản an toàn không thiếu thị trường
Liên kết để làm ăn lâu dài
ĐBSCL đối mặt với nguy cơ hạn hán và xâm nhập mặn
Tin khác


Bán kết Khởi nghiệp Xanh tại TPHCM: Ban giám khảo “bắt bệnh” và mở lối chiến lược cho các startup















































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này