
11:13 - 03/03/2026
Hiện sinh trong thời đại số
Những ưu tư về kỷ nguyên AI xuất phát ở thời đại công nghệ số từ đầu thế kỷ 21, tác động của nó đến môi trường sống, đặc biệt là giáo dục con người như thế nào trong thời đại số sẽ được triết gia Bùi Văn Nam Sơn lý giải một phần nào đó qua sự sống trải và viễn kiến của ông.
Con người liệu có rơi vào một khủng hoảng hiện sinh mới của thế kỷ 21?
– Trước hết, rất vui được chúc mừng ông vừa cho ra mắt chuỗi Giảng luận về các tác phẩm triết học kinh điển, bắt đầu bằng Giảng luận về Tồn tại và Hư vô (1), kiệt tác của “ông tổ hiện sinh” J. P. Sartre. Xin hỏi tại sao ông lại lựa chọn bắt đầu bằng tác giả J.P. Sartre, một triết gia vốn gây nhiều tranh cãi, từng nhận nhiều “tiếng oan” về cách hiểu hiện sinh nghĩa là sống để thỏa mãn lạc thú, buông thả, “yêu cuồng sống vội”… để mở đầu loạt giảng luận này?
– Năm 2025, thế giới triết học kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Sartre (1905-2025). Nhân dịp đặc biệt này, cùng với sự ra mắt kịp thời của dịch phẩm Biện hộ cho trí thức gồm 3 bài diễn thuyết nổi tiếng của Sartre tại Tokyo, 1966 của hai dịch giả Phạm Anh Tuấn và Đinh Hồng Phúc (2), tâp Giảng luận của tôi cũng xin góp một món quà sinh nhật nhỏ bé. Thêm nữa, nhắc đến Sartre là không thể quên tác động sâu sắc của ông đến tâm tư, tình cảm và cả những lựa chọn dấn thân trong tình huống ngặt nghèo của cả một thế hệ trẻ chúng tôi vào những thập niên 60-70 thế kỷ trước như một người anh, một người bạn lớn trong một thời khói lửa.
Sartre thường bị nền văn hóa đại chúng đánh đồng với lối sống buông thả, nhưng thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Triết học của ông là bản hùng ca về trách nhiệm cá nhân. Việc chọn Sartre đầu tiên là để góp phần đính chính rằng: Hiện sinh không phải là “sống gấp”, mà là nhận thức rõ bản thân ta là người duy nhất chịu trách nhiệm về ý nghĩa cuộc đời mình.
Sartre nhấn mạnh “con người bị kết án phải tự do”. Theo nghĩa mạnh mẽ: con người không phải có tự do như một thuộc tính, một sở hữu hay quyền lợi, mà LÀ tự do, tức không thể không tự do trong mọi hoàn cảnh, bởi không lựa chọn cũng là một sự lựa chọn. Ngày nay, thông điệp này vô cùng cấp thiết. Thay vì sống thụ động hay đổ lỗi cho hoàn cảnh, Sartre thúc giục chúng ta dấn thân – biến tự do như là bản tính cố hữu của mình thành hành động cụ thể để khẳng định nhân phẩm.
Qua Tập Giảng luận, tôi muốn làm rõ luận điểm: Triết học hiện sinh của Sartre đề cao con người ở vị trí trung tâm. Sống hiện sinh chính là quá trình tự kiến tạo chính mình thông qua những lựa chọn có ý thức, chứ không phải là sự thỏa mãn bản năng thấp kém. Theo nghĩa ấy, tự do và hiện hữu là đồng nghĩa và đồng nhất với nhau.
– Thưa ông, trong đời sống hàng ngày, sự “dấn thân” của các doanh nhân có khác gì với các triết gia, nhà khoa học và những nghệ sĩ “sinh nghề tử nghiệp” hay không? Hay nói cách khác hiện sinh của họ là gì?
– Trong cái nhìn của triết học hiện sinh, dù là ai, bản chất của sự “dấn thân” đều gặp nhau ở một điểm: Biến tự do thành hành động và chịu trách nhiệm hoàn toàn cho lựa chọn đó. Sartre khẳng định hiện hữu có trước bản chất. Ta không có một bản thiết kế nào được định sẵn. Chính hành động dấn thân mới tạo ra bản chất và ý nghĩa cho cuộc đời mình. Cả ba có sự khác biệt về diện mạo nhưng đồng nhất về bản chất:
Với doanh nhân, hiện sinh của họ là hành động tạo ra giá trị thực tế. Sự dấn thân nằm ở việc dám đối mặt với rủi ro, phá vỡ cái cũ để xây dựng cái mới. Họ sống quyết liệt với các dự án hay dự phóng của mình. Trong hoàn cảnh riêng của nước ta, tôi thường nghĩ đến trách nhiệm đặc biệt nặng nề “3 trong 1” trong sự dấn thân của doanh nhân: với bản thân, với cộng đồng và nhất là với sứ mệnh dẫn dắt sự phát triển và thịnh vượng cho tương lai của cả dân tộc. Văng vẳng đâu đây lời hiệu triệu tâm huyết của cụ Phan Châu Trinh: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”, vị chí sĩ mà ta sẽ tưởng niệm 100 năm ngày mất vào năm 2026 này!
Với triết gia/nhà khoa học, hiện sinh là dấn thân vào sự thật. Họ chọn đối diện với sự hoài nghi và những câu hỏi gai góc để khai phóng tư duy.
Với nghệ sĩ, hiện sinh chính là sự nhất quán. Họ định nghĩa bản thân thông qua chính công việc mình làm (hành động định nghĩa con người). Dù ở vị trí nào, hiện sinh không phải là một danh từ tĩnh tại, mà là một động từ. Họ không “là” cái gì đó sẵn có, mà “trở thành” cái chưa là thông qua lựa chọn. Cả ba đều đang “viết” lên trang giấy trắng của đời mình.
– Làm thế nào để những người làm ra tiền của đóng góp cho xã hội không bị rơi vào sự “ngụy tín” khi cố gắng lấp đầy cái trống rỗng hư vô của chính mình?
– Để tránh rơi vào ngụy tín, một thuật ngữ đặc sắc của Sartre – tức tự lừa dối bản thân rằng mình không có và không thể tự do để trốn tránh trách nhiệm – những người thành đạt cần đối diện với “hư vô”: Hiểu rằng tiền bạc hay danh tiếng không thể khỏa lấp vĩnh viễn sự trống rỗng của kiếp người. Đừng dùng việc từ thiện hay đóng góp xã hội như một “tấm bình phong” để trốn chạy nỗi cô độc hiện sinh hoặc để ru ngủ lương tâm. Ngụy tín xuất hiện khi ta làm điều tốt chỉ vì muốn sắm một vai diễn như thể đó là bản chất của ta, chẳng khác gì muốn biến mình thành một “vật thể” cố định, không còn khả thể nào khác. Thay vì sợ hãi sự trống rỗng, hãy xem đó là không gian để không ngừng tái thiết bản thân. Đóng góp cho xã hội khi đó là một “dự phóng/dự án” để khẳng định nhân tính, chứ không phải là vật lấp chỗ trống. Hãy là chủ thể tự do, dùng tài sản như phương tiện để dấn thân một cách tỉnh táo.
– Làm thế nào để giới trẻ hiểu được rằng chính sự nghi ngờ, hoang mang, trăn trở ấy là sự hư vô hóa đời sống này khiến cho những kinh nghiệm của họ với cuộc đời là một sự sống trải bắt buộc để được tự do chọn lựa kiến tạo cuộc đời mình?
– Sự nghi ngờ là dấu hiệu cho thấy ta đang tách rời khỏi những khuôn mẫu có sẵn. Đó chính là lúc Hư vô hóa xuất hiện: bạn xóa bỏ những định kiến áp đặt để bắt đầu tự vấn. Bản án “phải tự do” là một đặc ân. Nếu cuộc đời không có ý nghĩa sẵn có, bạn chính là tác giả có toàn quyền viết nên kịch bản của đời mình. Mọi hoang mang, trăn trở là chất liệu thực tế để ta hiểu về giới hạn và năng lực của mình. Không có sự hoang mang, sẽ không có sự lựa chọn đích thực, mà chỉ có sự vâng lời mù quáng. Nỗi đau của sự lựa chọn chính là bằng chứng sống động nhất cho thấy bạn đang thực sự hiện hữu và đang tự do.

Khả năng AI cộng sinh có thể tạo ra văn bản, nhưng không thể viết ra “Tồn tại và hư vô” nếu không có Jean-Paul Sarte.
Phải chăng có một “chủng loài AI” đang hình thành có thể thống lĩnh con người?
– Lâu nay, làm việc với văn bản hay với thực tại là con đường dẫn đến sự mở mang kiến thức, xây dựng khái niệm và từ đó có cơ sở lý thuyết vững chắc để hướng dẫn hành động. Tuy nhiên, gần đây, thế giới có vẻ thay đổi chăng khi con người, kẻ vốn dĩ làm chủ tri thức, nay phải dựa vào kiến thức của AI mang đến để hoàn tất công việc của mình. Theo ông, một thế giới có AI và một thế giới không có AI sẽ như thế nào?
– Trong cái nhìn của triết học hiện sinh, sự xuất hiện của AI không thay đổi bản chất của con người, nhưng chỉ thay đổi phương thức ta dấn thân. Xin trả lời ngắn gọn:
Thế giới không có AI là thế giới của sự nỗ lực cá nhân thuần túy. Con người phải tự mình băng qua mọi công đoạn từ thu thập dữ liệu đến tư duy lý thuyết. Sự “dấn thân” gắn liền với lao động trí óc gian khổ. Tốc độ xử lý và khả năng dự phóng tương lai bị giới hạn bởi sinh học và kinh nghiệm cá nhân.
Thế giới có AI là thế giới của sự dấn thân vào lựa chọn cuối cùng. AI giúp con người thoát khỏi những công việc mang tính kỹ thuật nhàm chán, để ta đối diện trực tiếp với quyết định cốt lõi. Nhưng con người dễ rơi vào “ngụy tín” khi phó mặc sự lựa chọn cho thuật toán, trốn tránh trách nhiệm. Nếu làm chủ được AI, con người có thêm một “công cụ dự phóng” cực mạnh để nhìn thấy các viễn tượng tương lai, từ đó làm chủ số phận của mình.
Tôi không biết AI có thể trở thành “chủng loài” mới hay không, nhưng tới nay nó vẫn chỉ là một công cụ, bởi kỳ cùng vẫn là sản phẩm của trí tuệ con người. Có thể một ngày không xa số lượng robot có thể nhiều hơn số lượng con người nhưng chỉ có trí tuệ con người mới có thể “đứng trên vai” của AI, khai thác và chế ngự được trí thông minh nhân tạo.
AI chỉ có kiến thức và khả năng tổng hợp kiến thức từ quá khứ, còn con người mới có sự sống trải, dự phóng và trách nhiệm. Trong thế giới có AI, năng lực “làm chủ lý thuyết” càng quan trọng, vì nếu không nắm chắc các điều kiện cơ bản, ta sẽ trở thành nô lệ cho những kết quả mà ta không hiểu rõ nguồn cơn.
Tôi xin đặt ra một giả thiết, có chăng lại chính là con người, những thế lực bằng xương bằng thịt có thể sử dụng sức mạnh khổng lồ của AI để thao túng con người, tạo ra một kẻ thù giả (đối tượng giả). Có thể là những tập đoàn siêu đế quốc, chính họ chứ không phải AI sẽ là thách thức thật sự của con người.
AI và giáo dục
– Từ góc nhìn của một trong những người tiên phong trong giáo dục khai phóng, ông nghĩ gì về hệ quả của AI đối với giáo dục?
– Có thể dự đoán một sự cải hóa sâu sắc! Khi AI đảm nhiệm việc cung cấp thông tin (trước đây là của những thư viện khổng lồ), vai trò của người lớn sẽ có cơ hội chuyển phần lớn từ đơn thuần truyền đạt tri thức sang người hướng dẫn phương pháp tư duy. Giáo dục trong tương lai sẽ chủ yếu dạy cách đặt câu hỏi đúng và thẩm định tính chân thực của thông tin bằng tư duy phản biện. AI cung cấp dữ liệu, nhưng chính người trẻ mới là người lựa chọn tin vào điều gì và chịu trách nhiệm về niềm tin đó. Khi AI có thể hỗ trợ ít nhiều cho phần “trí” (vốn rộng và sâu hơn nhiều, nhất là ở mức sáng tạo cái mới), giáo dục có thêm điều kiện đặt trọng tâm vào phần tâm và đức, đúng với tinh thần “đào luyện” (Bildung/formation) của truyền thống học thuật phương Tây và sự giáo hóa/tu dưỡng của truyền thống văn hóa phương Đông. Đó là học nhiều hơn về lòng trắc ẩn, biết xấu hổ và phẫn nộ, biết chỗ dừng lại và kết nối giữa người với người – những thứ mà AI chỉ có thể mô phỏng chứ không thể trải nghiệm. Người trẻ sẽ có cơ hội “hiện sinh” sớm hơn! Giáo dục sẽ chuyển từ “học để biết” sang “học để làm chủ sự tự do của chính mình”.
Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện thú vị này.
Ngân Hà thực hiện (theo TGHN)
Ngày đăng: 3/3/2026
—————
(1) Xem Bùi Văn Nam Sơn, Giảng luận Tồn tại và Hư vô, Công ty Sách Thật, NXB Hội Nhà Văn, 2025.
(2) Xem, J. P. Sartre, Biện hộ cho trí thức, Phạm Anh Tuấn và Đinh Hồng Phúc dịch, Công ty Sách Thật, NXB Hội Nhà Văn, 2025.
























































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này