
15:29 - 19/08/2026
EPR đi vào từng chiếc bao bì, từng hợp đồng và dòng dữ liệu của doanh nghiệp
Trong Workshop “EPR cho doanh nghiệp qui định quản lý bao bì cho doanh nghiệp tại Việt Nam và EU”, ngày 18/8 ở văn phòng Trung tâm BSA theo hai hình thức offline và online, một doanh nghiệp sản xuất khay nhựa đặt câu hỏi rằng: Công ty tôi sản xuất khay PP, PET và màng dán để đóng gói thực phẩm. Khách hàng mua những chiếc khay này, cho tôm vào, dán màng, dán nhãn thương hiệu rồi xuất khẩu hoặc đưa sản phẩm ra thị trường. Vậy trách nhiệm EPR thuộc về ai?
Phân tích câu hỏi trên có thể thấy, đây là một trong những điểm khó nhất khi chính sách EPR đi vào thực tế: một sản phẩm có thể đi qua nhiều doanh nghiệp trước khi trở thành một sản phẩm hoàn chỉnh trên thị trường, nhưng trách nhiệm pháp lý không phải lúc nào cũng đi theo từng công đoạn sản xuất.
Theo giải thích của ông Nguyễn Văn Phan – Chuyên gia từ Văn phòng EPR Quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ở đây cần tách hai trách nhiệm. Trách nhiệm tái chế bao bì và trách nhiệm đóng góp xử lý chất thải. Với trường hợp chiếc khay trở thành bao bì thương phẩm của sản phẩm tôm và được doanh nghiệp thực phẩm đưa ra thị trường dưới nhãn hiệu của họ, trách nhiệm tái chế thuộc về doanh nghiệp thực phẩm, thay vì doanh nghiệp bán chiếc khay. Tuy nhiên, trường hợp doanh nghiệp sản xuất khay bán sản phẩm nhựa dùng một lần như một sản phẩm độc lập lại có thể phát sinh trách nhiệm xử lý chất thải.
Câu chuyện này cho thấy EPR đang đi vào từng hợp đồng mua bán, từng dòng sản phẩm, từng chiếc bao bì và cả cách doanh nghiệp xác định mình đang đóng vai trò gì trong chuỗi cung ứng.
Khi cùng một nhãn hàng được sản xuất ở ba nhà máy
Đại diện doanh nghiệp khác là chị Diệu Đoàn, đặt tình huống một nhãn hàng được sản xuất tại ba nhà máy. Ba nhà máy thuộc cùng một tập đoàn nhưng có mã số thuế riêng, hạch toán độc lập. Trên hồ sơ công bố, sản phẩm có thể được ghi sản xuất tại cả nhà máy A, B và C.
Nếu cả ba nhà máy đều có doanh thu riêng, nhưng sản phẩm cùng mang nhãn của công ty A, thì doanh nghiệp nào phải thực hiện trách nhiệm EPR?
Theo chuyên gia, việc này liên quan trực tiếp đến dữ liệu mà doanh nghiệp phải có để kê khai.
Ông Phan cho hay, trong trường hợp doanh nghiệp hạch toán độc lập, cần xem xét cụ thể thỏa thuận và hợp đồng giữa các bên. Trách nhiệm gắn với bên chịu trách nhiệm ghi nhãn, công bố nhãn hàng hóa và đưa thương hiệu ra thị trường.
Nhưng chính doanh nghiệp lại đặt ra một vấn đề rất thực tế: nhà máy A có thể đứng tên nhãn hàng, trong khi sản phẩm thực tế được sản xuất tại B và C; doanh thu của B và C lại được hạch toán riêng. Nếu yêu cầu A kê khai toàn bộ, A lấy đâu ra số liệu chính xác về lượng hàng do B và C đưa ra thị trường?
Điều này buộc doanh nghiệp phải nhìn lại hệ thống quản trị dữ liệu, quan hệ pháp nhân và cách phân chia trách nhiệm giữa các đơn vị trong cùng một tập đoàn.
Đây cũng là một điểm đáng chú ý của EPR là tuân thủ môi trường bắt đầu chạm vào quản trị doanh nghiệp.
Hiện nay, khung pháp lý EPR tại Việt Nam đang được cụ thể hóa bằng Nghị định 110/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 25/5/2026, quy định chi tiết trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.
Trong phần trình bày tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Phan phân biệt hai nhóm trách nhiệm theo Luật Bảo vệ môi trường 2020: trách nhiệm tái chế tại Điều 54 và trách nhiệm xử lý chất thải tại Điều 55.
Và doanh nghiệp không thể chỉ nhìn vào vật liệu để kết luận mình có nghĩa vụ gì. Họ phải nhìn cả sản phẩm, hợp đồng, nhãn hàng, thị trường tiêu thụ và dòng chuyển giao hàng hóa.
Xuất khẩu cũng không phải lúc nào được miễn EPR

Một câu hỏi khác từ doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu lớn cũng cho thấy khoảng cách giữa quy định và thực tế kinh doanh.
Doanh nghiệp này có tổng doanh thu sản xuất trên 30 tỷ đồng mỗi năm, nhưng phần tiêu thụ thực tế tại Việt Nam chỉ vài tỷ đồng. Do đó, doanh nghiệp muốn biết ngưỡng 30 tỷ đồng được tính trên toàn bộ doanh thu hay chỉ phần hàng hóa tiêu thụ tại Việt Nam.
Câu trả lời được đưa ra là ngưỡng doanh thu 30 tỷ đồng được tính trên phần sản phẩm sản xuất, nhập khẩu đưa ra tiêu thụ tại thị trường Việt Nam; sản phẩm trực tiếp xuất khẩu không tính vào doanh thu chịu trách nhiệm theo trường hợp được trao đổi. Vì vậy, nếu phần tiêu thụ tại Việt Nam dưới 30 tỷ đồng trong năm, doanh nghiệp được miễn trừ thực hiện trách nhiệm EPR cho năm đó.
Nhưng ngay sau đó lại xuất hiện một tình huống khó hơn. Doanh nghiệp bán hàng cho một đại lý trong nước, rồi đại lý này mới xuất khẩu.
Theo giải thích của các chuyên gia, quy định hiện hành chỉ miễn trừ trong trường hợp nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu trực tiếp xuất khẩu. Khi doanh nghiệp đã chuyển giao hàng lần đầu cho đại lý tại thị trường Việt Nam rồi đại lý mới xuất khẩu, sản phẩm đó hiện vẫn không thuộc trường hợp miễn trừ này.
“Rào cản xanh” của thị trường EU
Nếu EPR ở Việt Nam đang đặt ra yêu cầu mới về trách nhiệm của doanh nghiệp, thì thị trường EU còn đi xa hơn ở một tầng khác, là bao bì và sản phẩm phải được thiết kế, quản lý và cung cấp thông tin theo hướng bền vững hơn.
Tại sự kiện, ông Nguyễn Thi – Giáo viên trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã đặt vấn đề về các yêu cầu mới của EU như PPWR (Quy định về Bao bì và Chất thải Bao bì của Liên minh Châu Âu), thiết kế sinh thái theo ESPR và Hộ chiếu sản phẩm kỹ thuật số DPP. Đây là điểm mà các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần đặc biệt quan tâm.
PPWR của EU đã đặt ra các yêu cầu liên quan đến thiết kế bao bì, khả năng nhận diện, thông tin và sự phù hợp của bao bì trong suốt quá trình sản xuất. Quy định cũng yêu cầu thông tin về nhà sản xuất hoặc chủ thể liên quan có thể được thể hiện trên bao bì hoặc thông qua mã QR hay phương tiện dữ liệu số trong những trường hợp phù hợp.
Trong khi đó, với DPP, câu chuyện không dừng ở việc sản phẩm có “xanh” hay không. Doanh nghiệp phải có khả năng cung cấp dữ liệu sản phẩm theo cấu trúc nhất định, bảo đảm khả năng truy xuất và chia sẻ dữ liệu trong chuỗi cung ứng. Ủy ban châu Âu cho biết DPP Registry đã đi vào hoạt động từ tháng 7/2026, đánh dấu bước chuyển từ khung chính sách sang giai đoạn triển khai thực tế.
Nói cách khác, theo ông Thi, thị trường đang dần chuyển từ câu hỏi “sản phẩm này có đáp ứng tiêu chuẩn hay không?” sang câu hỏi “doanh nghiệp có dữ liệu để chứng minh sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn đó hay không?”
EPR bắt đầu từ thiết kế
Trong khi đó, phần chia sẻ của bà Chu Thị Kim Thanh – Phó Giám đốc điều hành PRO Việt Nam, đưa câu chuyện trở lại một điểm rất căn bản, tái chế không nên chỉ được nhìn ở cuối vòng đời của bao bì.
PRO Việt Nam hoạt động như một tổ chức trung gian nhận ủy quyền tái chế. Sau khi nhận khối lượng từ các thành viên, đơn vị ký kết với bên thu gom và tái chế, đồng thời thực hiện kiểm toán độc lập để xác nhận khối lượng tái chế trước khi báo cáo lên hệ thống EPR quốc gia.
Bà Thanh cho biết, PRO Việt Nam hiện triển khai thu gom, tái chế sáu nhóm bao bì gồm giấy hỗn hợp, carton, nhựa PET cứng, lon nhôm, nhựa HDPE cứng và nhựa mềm. Theo số liệu, năm 2024 là năm đầu tiên thực thi EPR bắt buộc và PRO tổ chức tái chế gần 65.000 tấn cho sáu nhóm bao bì. Năm 2026, khối lượng nghĩa vụ mà các thành viên cam kết thực hiện thông qua PRO là 61.756 tấn.
Theo bà Thanh, các đơn vị tái chế được lựa chọn qua nhiều bước từ thẩm định hồ sơ pháp lý, đánh giá thực địa, thử nghiệm đến ký hợp đồng. Đơn vị tái chế báo cáo hàng tháng; kiểm toán độc lập được thực hiện hàng quý và hợp đồng được nghiệm thu cuối năm.
Điều này cho thấy một thực tế EPR muốn vận hành được phải có dữ liệu và cơ chế kiểm chứng.
Nếu không kiểm soát được khối lượng thu gom, tái chế và đầu ra của vật liệu tái chế, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất rất dễ chỉ dừng ở một nghĩa vụ kê khai trên giấy.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị gì?
Phần hướng dẫn kỹ thuật của Văn phòng EPR Việt Nam tại Workshop tập trung vào những thao tác rất cụ thể trên Hệ thống thông tin EPR quốc gia, như tạo tài khoản, kê khai sản phẩm và bao bì, tính toán định mức đóng góp Fs, thực hiện ký số trực tiếp hoặc thông qua tệp PDF có mã QR… Đó là dữ liệu.
Doanh nghiệp cần biết mình đang bán sản phẩm gì, loại bao bì nào, khối lượng bao nhiêu, đưa ra thị trường Việt Nam bao nhiêu, xuất khẩu bao nhiêu, ai đứng tên nhãn, ai chịu trách nhiệm công bố, sản phẩm được chuyển giao qua những đơn vị nào.
Với doanh nghiệp có nhiều nhà máy, các dữ liệu này càng phải được kết nối.
Với doanh nghiệp xuất khẩu, hồ sơ chứng minh hàng hóa được xuất khẩu cũng trở thành vấn đề cần quan tâm.
Với doanh nghiệp sản xuất bao bì, cần phân biệt rõ mình đang bán một sản phẩm độc lập hay đang cung cấp bao bì để doanh nghiệp khác đóng gói sản phẩm của họ.
Và với doanh nghiệp hướng đến EU, câu chuyện còn phải đi xa hơn, thiết kế bao bì, khả năng tái chế, dữ liệu sản phẩm và khả năng truy xuất cần được tính ngay từ đầu.
Vì thế, bài toán của doanh nghiệp không chỉ là tuân thủ EPR. Đó còn là bài toán thiết kế lại sản phẩm, quản trị dữ liệu và chuẩn bị cho một thị trường mà yếu tố môi trường đang dần trở thành một phần của năng lực cạnh tranh.
Workshop “EPR cho doanh nghiệp qui định quản lý bao bì cho doanh nghiệp tại Việt Nam và EU” do Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA), với sự đồng hành của Công ty Cổ phần Cơ điện Tân Hoàn Cầu, Công ty TNHH Tân Nhiên, Công ty TNHH SX TM DV Qui Phúc, Công ty Cổ phần Nhựa Tái chế Duy Tân (DUYTAN Recycling), Công ty Cổ phần Tái chế Bao bì PRO Việt Nam (PRO Việt Nam), Công ty TNHH SX – TM Thực phẩm Gia vị Tương Việt Hoa Sen và Công ty TNHH May Thêu Giày An Phước.
Một số hình ảnh:


Theo Trần Quỳnh, ảnh: Bảo Võ
Ngày đăng: 19/8/2026


















































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này