
11:04 - 03/03/2026
Chân lý và Phương pháp của Hans-Georg Gadamer
Cuối năm 2025, giới triết học Việt Nam háo hức chào đón bản dịch tiếng Việt Chân lý và Phương pháp của Hans-Georg Gadamer (1900-2001), một tác phẩm kinh điển của triết học thế kỷ XX.
Công trình này được công bố lần đầu tiên tại Đức vào năm 1960 và nhanh chóng trở thành chủ đề được thảo luận rộng rãi trong và ngoài nước Đức. Cũng từ đó tên tuổi Gadamer vang danh khắp thế giới như là triết gia hàng đầu của thông diễn học nói riêng và triết học nói chung.
Nhan đề Chân lý và Phương pháp đủ gợi lên sự tò mò. Chân lý là gì? Phương pháp được bàn đến là phương pháp nào? Và liên từ “và” tưởng chừng hiển nhiên nhưng chứa đựng một điều gì đó cần phải làm rõ.
Gadamer muốn đặt lại câu hỏi về mối quan hệ giữa chân lý và phương pháp. Phải chăng cần có sẵn một hoặc nhiều phương pháp vững chắc mới tiếp cận và đạt đến chân lý? Phải chăng phương pháp là con đường duy nhất để đến được chân lý? Hay, phải chăng chân lý là sản phẩm độc quyền của phương pháp khoa học?
Trong cuốn sách của mình, Gadamer chỉ muốn nói rằng phương pháp khoa học không phải là cách duy nhất và cũng không đủ để đưa ta đến với chân lý, nhất là chân lý trong các ngành nhân văn. Vậy điều gì sẽ bổ sung cho phương pháp khi ta nghiên cứu các khoa học nhân văn? Gadamer đề xuất bốn “khái niệm dẫn đạo”, gồm Bildung/ sự đào luyện văn hóa, cảm quan chung (sensus communis), sở thích và năng lực phán đoán. Ông cho rằng bốn khái niệm xuất phát từ truyền thống chủ nghĩa nhân bản này là điều kiện tiên quyết cho nghiên cứu khoa học nhân văn.
Chân lý và phương pháp gồm ba phần. Phần thứ nhất sẽ cho thấy “chân lý” xuất hiện trong kinh nghiệm nghệ thuật như thế nào. Phần hai mở rộng vấn đề chân lý trong việc hiểu thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn. Và phần ba thực hiện một bước chuyển thông diễn học trong môi trường ngôn ngữ. Như thế ba phần đan xen bện chặt vào nhau tạo thành những vòng tròn đồng tâm dẫn đến một tính phổ quát ngày càng mở rộng của việc thông hiểu và diễn giải trong đời sống con người.
Trong phần thứ nhất, câu hỏi trọng tâm là “Liệu có chân lý trong kinh nghiệm về nghệ thuật không?”. Trước khi trả lời câu hỏi này ông tiến hành một cuộc phê phán đối với mỹ học của Kant và của những người sau Kant. Kant cho rằng một đối tượng xứng đáng được gọi là đẹp khi và chỉ khi nó khơi lên trong chủ thể một tình cảm vui sướng, một sự hài lòng trong tâm hồn. Những người kế tục Kant như Richard Hamann hay Friedrich Schiller đều tập trung và nhấn mạnh vào tính thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật. Họ không quan tâm đến hoàn cảnh ra đời, quá trình hình thành và lịch sử tiếp nhận tác phẩm. Gadamer phê phán mỹ học Kant là một nền mỹ học chỉ có thể áp dụng đối với các đối tượng đẹp trong giới tự nhiên, còn mỹ học sau Kant tỏ ra quá hạn hẹp trong việc đánh giá tác phẩm nghệ thuật, vì chỉ chú trọng vào trải nghiệm thẩm mỹ của người thưởng lãm. Đối với Gadamer, tác phẩm nghệ thuật không chỉ để cảm, mà chủ yếu là để hiểu. Hiểu tác phẩm là nhận ra điều gì đó mà nó muốn nói với chúng ta. Việc hiểu này xảy ra khi ta gặp gỡ tác phẩm, đối thoại với nó, tham dự vào nội dung được nó trình bày. Gadamer gọi đó là “kinh nghiệm nghệ thuật”. Ở đây, từ “kinh nghiệm” (Erfahrung/ experience) rộng hơn “trải nghiệm” (Erlebnis/ lived experience) và bao hàm cả trải nghiệm. Trong kinh nghiệm nghệ thuật, ta nhận ra một điều gì đó từ tác phẩm, và đó chính là chân lý của nghệ thuật. Chân lý này không phải là cái gì có sẵn, nằm sẵn ở đó. Chân lý chỉ xuất hiện trong cuộc gặp gỡ, trong sự hòa trộn giữa chân trời của người xem và chân trời của tác phẩm.
Phần thứ hai mở rộng vấn đề chân lý vào trong các khoa học nhân văn. Gadamer phục hồi những khái niệm đã đánh mất vị thế và giá trị của mình dưới sự phê phán của thời Khai sáng: tiên kiến/ thành kiến, quyền uy và truyền thống. Thời Khai sáng xem ba khái niệm này là những chướng ngại cản trở sự tiến bộ của lý tính và nhận thức. Nhưng với Gadamer, chúng có một phương diện tích cực và quan trọng cho việc thông hiểu và diễn giải. Truyền thống không phải là những gì thuộc về quá khứ và hoàn toàn cắt đứt với hiện tại và hiện đại. Truyền thống và hiện tại/ hiện đại không phải là hai mặt đối lập. Vì truyền thống (tradition), theo nghĩa từ nguyên trong tiếng Latin, là “truyền trao”, “chuyển trao” (tradere). Đó là sự truyền trao những quan niệm, cách sống, niềm tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đời sống hiện tại chỉ có thể được hình thành thông qua sự truyền trao của truyền thống. Vì thế, truyền thống luôn hiện diện trong hiện tại.
Gadamer không hiểu tiên kiến/ thành kiến theo nghĩa thông thường là những quan niệm, niềm tin cố định, cứng nhắc và phiến diện. Tiên kiến/ thành kiến là điều kiện có trước để con người hiểu được một điều gì đó. Con người không bao giờ có thể tiếp cận và thấu hiểu mọi việc với “một tấm bảng trắng”. Con người luôn luôn hiểu dựa vào những gì mình đã nhận thức và lĩnh hội trước đó rồi. Cho nên, trong việc hiểu, trong việc sống và ứng xử với người khác, luôn luôn có sự hiện diện của truyền thống, quyền uy và tiên kiến.
Phần thứ ba là phần thú vị nhất, đậm tính triết học nhất, nhưng lại khó hiểu nhất. Gadamer xem xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Ông không xem ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm các ký hiệu biểu thị những nội dung. Cũng không xem nó là phương tiện để con người diễn đạt và truyền đạt tư tưởng của mình đến với người khác. Đối với Gadamer, ngôn ngữ là môi trường của tư duy, nơi tư duy hoạt động, biểu hiện và phát triển. Không có hoạt động tư duy nào bên ngoài ngôn ngữ. Vì thế, việc thông hiểu luôn luôn diễn ra trong ngôn ngữ.
Thoạt nhìn, Chân lý và Phương pháp có vẻ đang tìm cách đặt cơ sở lý thuyết cho nghệ thuật và các khoa học nhân văn. Nhưng thực ra ý đồ của Gadamer là trình bày một triết học của riêng mình, ông gọi đó là “thông diễn học triết học”. Qua đó, ông muốn mở rộng phạm vi của thông hiểu và diễn giải đến mức phổ quát, nghĩa là ông xem sự thông diễn luôn hiện diện trong mọi lĩnh vực của đời sống con người.
Nguyễn Sỹ Nguyên (theo TGHN)
Ngày đăng: 3/3/2026
























































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này