
09:36 - 06/08/2020
Bức tranh tối – sáng ở ĐBSCL
Làn sóng lao động mất việc ở miền Tây ngày càng tăng, họ từ khắp nơi, trong đó phần lớn lao động ở vùng Đông Nam bộ trở về nhà trong sự hụt hẫng, buộc các DN trong vùng phải có kế sách tiếp nhận họ.

Giá cá tra nguyên liệu xuống dưới giá thành, các doanh nghiệp chọn lựa vùng nuôi bền vững để dự trữ. Ảnh: Ngọc Bích.
Thời gian qua đã xuất hiện nhiều nhà đầu tư đến từ Hàn Quốc tới khảo sát xây nhà máy, đây là tín hiệu đáng mừng… Nhưng, lao động và nông dân miền Tây vẫn phải kỳ vọng vào hạt lúa, con tôm, con cá… để vượt qua cơn khủng hoảng hiện nay.
DN gạo tìm mọi cách xoay xở
Với ngành sản xuất lúa gạo, ông Nguyễn Văn Thành, CEO công ty TNHH SX – TM Phước Thành IV, cho rằng dịch bệnh xảy ra sẽ có nhiều doanh nghiệp (DN) bi quan, nhưng quá trình kiểm soát dịch là cơ hội nhìn lại, cũng có cơ hội chứ không hẳn là rủi ro thôi. Đây là thời điểm xây dựng chữ tín và thương hiệu. Công ty Phước Thành IV đã làm được, giữ được đối tác và đang mở thêm thị trường.
Nhắc lại sự kiện vinh danh gạo ngon toàn cầu tại Manila – năm 2019, ông Thành chia sẻ: hơn 30 năm trong ngành gạo, tham gia chuỗi cung ứng trong và ngoài nước, tới năm vừa qua, lần đầu thấy gạo Việt đăng quang, bạn bè quốc tế biết tới thương hiệu gạo Việt. Đó là tín hiệu đáng mừng nhìn từ thương hiệu giống, thương phẩm để nghĩ tới canh tác, chế biến, đóng gói cho bài bản hơn…
Đồng cảm về thực trạng, ông Phạm Thái Bình, CEO công ty Trung An, nói: “Những mặt hàng chính như thuỷ sản, lúa gạo, trái cây đều chịu ảnh hưởng kép từ Covid-19 và biến đổi khí hậu, nhưng qua đây phải cần nhìn nhận lại thị trường. Theo ông Bình, dù thị trường nay trồi mai sụt, nhưng nếu sản xuất theo hướng bền vững, sẽ chịu ảnh hưởng thấp hơn. Trung An xuất khẩu gạo nhiều năm, trước đây, nông dân trồng lúa gì cũng được, tới mùa thu hoạch DN mua về chế biến, rồi đi chào bán (xuất khẩu). Năm 2012, lần đầu tiên công ty xuất 2.000 tấn gạo (chỉ thuần một giống gạo) ra nước ngoài, đối tác không tin, vì nghĩ lâu nay chúng ta chỉ bán gạo theo cấp độ 5% tấm, 25%, 35% tấm hay gì gì đó thôi.
“Mười năm nay, chúng tôi không làm như thế nữa”, ông Bình cho biết. Nông dân trồng theo đơn đặt hàng của công ty, vì đó là nhu cầu có thực của người mua số lượng lớn trong nước và xuất khẩu.
Năm năm trở lại đây, 90 – 95% thậm chí 100% doanh nghiệp xuất khẩu quay về thị trường trong nước. Nắm bắt thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng chính là vấn đề quan trọng cho ngành nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), không riêng gì mặt hàng gạo. “Từ đây, có sự liên kết bền chặt giữa người sản xuất và DN. Quy mô của Trung An chưa lớn, nhưng về thương hiệu, chất lượng cao thì chúng tôi hoàn toàn tự tin”, ông Bình khẳng định.
Tránh bỏ trứng vào một giỏ
ĐBSCL không chỉ chịu ảnh hưởng từ Covid-19, mà vùng còn chịu nhiều tác động từ hạn, mặn và những khó khăn chưa “kịp đặt tên”. Lâu nay, những khó khăn được “định danh”: trình độ lao động thấp và hạ tầng kỹ thuật còn hạn chế, năng suất lao động kém… Từ đó, có thể nhìn thấy sựcố gắng của DN trong vùng.
Ông Hồ Quốc Lực, công ty Sao Ta (Fimex), tỉnh Sóc Trăng, nhận xét: tôm là mười sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu chủ lực hàng năm, mỗi năm tạo ra giá trị kim ngạch khoảng 4 tỷ USD. Sáu tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu tôm vẫn tăng 3% so với cùng kỳ. Trừ thị trường Trung Quốc không tăng, vì lý do khách quan và chủ quan.
Theo đánh giá của quỹ Tiền tệ thế giới, nếu năm nay đại dịch Covid-19 đi qua, thì tốc độ tăng trưởng của thế giới sau đại dịch đột biến, có thể gần gấp đôi năm 2019. Ngành tôm Việt Nam đã giữ chân được những thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ mới là thị trường tôm lớn thứ tư của Việt Nam.
Tháng 8.2020, hiệp định EVFTA có hiệu lực, thị phần con tôm sẽ có mức tăng trưởng tốt hơn nữa nhờ chính sách thuế nhiều sản phẩm còn 0%. “Sáu tháng cuối năm nay, theo tôi tốc độ tăng trưởng tốt. Tình hình cung cầu sẽ lạc quan, có căn cứ và lòng tin vào mô hình phát triển bền vững. Ông bà mình có câu “trong rủi có may”, tôi nghĩ áp lực tạo động lực. Thời gian qua, cộng đồng DN nuôi và chế biến tôm ở miền Tây đã nỗ lực duy trì sản xuất, giữ lao động, làm ra sản phẩm đúng chuẩn. Trước áp lực việc làm, người lao động thấy thiết thực, đúng đắn thì người ta thực hiện nghiêm túc định hướng của công ty”, ông Lực chia sẻ.
Lâu nay, nhiều DN tôm phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc, nhưng gần đây, theo ông Lực, DN xuất khẩu đã rút kinh nghiệm – không bỏ trứng vào một giỏ – họ cơ cấu lại dòng chảy thị phần, cơ cấu lại sản phẩm để thị phần xuất khẩu
cân bằng hơn.
Sau khủng hoảng thừa sẽ đến thiếu
Nhiều năm xây dựng mô hình đa ngành nghề, khi dịch Covid-19 bùng phát, 3 – 4 nhà máy năng lượng mặt trời giữ nguồn thu ổn định; mảng bất động sản không bị ảnh hưởng nhiều. Ông Lê Thanh Thuấn, CEO tập đoàn Sao Mai, khái quát về khả năng “mạnh giỏi” từ các lĩnh vực của Sao Mai.
Riêng mảng nông – thuỷ sản, lúc thời điểm lợi nhuận cao (50 – 60%), nhiều nơi bùng nổ vùng nguyên liệu. Tới nay, cá tra bị hai tác động xấu: vừa bị dịch bệnh vừa khủng hoảng thừa, rất nguy hiểm.
Nói vậy, nhưng những vùng nuôi bền vững vẫn có hàng tốt, Sao Mai đã tăng dự trữ do tiên lượng tình hình sau khủng hoảng thừa sẽ tới thiếu. Hiện nay Sao Mai dựng kho dự trữ hơn 10.000 tấn để tạo lợi thế. Bình thường làm một kho mất thời gian cả năm, nhưng trong đợt dịch này chúng tôi làm vài tháng là xong, do nguồn lực tập trung hơn. Khó khăn hiện nay là thiết bị thiết yếu muốn nhập, nhưng không có, nếu có cũng không chở được. Lúc bình thường thiết bị đông lạnh nhập từ châu Âu khoảng sáu tháng, bây giờ, vận chuyển đã khó, mà dù có rồi thì dây chuyền vẫn phải nằm trong kho do chuyên gia không qua được.
Cũng như nhiều DN khác, Sao Mai mở rộng thêm thị trường ở các nước và nội địa, nhưng người tiêu dùng trong nước chưa có thói quen ăn nhiều cá tra, đây cũng là khó khăn chung của ngành. “Lời khuyên sống sót trong dịch bệnh, tôi nghĩ nên hoạt động đa ngành nghề, con cuốn chiếu có nhiều chân, dù nó dài nhưng nó vẫn đi được bình thường”, ông Thuấn chia sẻ.
Chính sách hỗ trợ chỉ đến với DN lớn
Cuộc khảo sát của VCCI Cần Thơ cho thấy: Xét theo quy mô kinh doanh, tỷ lệ DN siêu nhỏ ở khu vực miền Tây được hưởng các chính sách hỗ trợ Covid-19 chỉ có 4,2% ở gia hạn thuế TNDN, còn lại chỉ dao động từ 0 – 1,5%. Kế đến là DN nhỏ có tỷ lệ hưởng chính sách khoảng 3 – 4%. Ngược lại, các DN vừa và lớn tiếp cận chính sách hỗ trợ Covid-19 tốt hơn nhiều, nhất là các chính sách như gia hạn nộp thuế TNDN, TNCN, GTGT với tỷ lệ dao động từ 9,5 – 17,4%. Họ cũng được tiếp cận tín dụng tốt hơn nhiều, đặc biệt là các DN có quy mô vừa với tỷ lệ 9,8 – 15,3%.
Tại ĐBSCL, DN được giãn thời gian nộp thuế phổ biến từ hai tháng, DN cho rằng như vậy vẫn chưa giải quyết hết khó khăn. Một số DN cũng cho biết đã được tạm hoãn nộp tiền thuê đất đợt 1 năm 2020 và được giảm giá điện theo lộ trình. Một số DN khác đề nghị chính sách giãn thời gian đóng BHXH cần thực hiện sớm.
Liên quan đến việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, ông Vũ Tiến Lộc, chủ tịch VCCI, cho rằng thực tế mới giảm được 30% so với con số báo cáo của bộ, ngành là 60%. VCCI cũng đề nghị các bộ, ngành sửa đổi 93 văn bản quy phạm pháp luật, 32 luật, 51 nghị định và 10 thông tư để khắc phục những chồng chéo, rào cản về kinh doanh hiện nay.
Khánh An – Ngọc Bích (theo TGHN)
Có thể bạn quan tâm
Gần 30.000ha lúa thiệt hại do hạn mặn
Đầu tư vào ĐBSCL: Doanh nghiệp ngoại ‘ngại hạ tầng’, doanh nghiệp nội ‘lo thủ tục’
Bà Phạm Chi Lan: ‘Tôi mừng vì Mekong Connect lại thêm trưởng thành, thêm kết nối nhiều hơn’
Ngành cá tra lại đối mặt thiếu nguồn cung cục bộ
Mekong Connect 2024: Kinh tế dược liệu – ‘nàng công chúa còn đang ngủ trong rừng’
Tin khác


Ba Tri chào đón đoàn Company Tour với bốn bài hát Sắc bùa Phú Lễ






















































Ý kiến của bạn về bài viết
Không có chức năng bình luận cho bài viết này